CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Ratio decidendi trong án lệ anh và các gợi mở cho pháp luật Việt Nam / Trịnh Thục Hiền, Nguyễn Ngọc Thứ // Khoa học pháp lý .- 2023 .- Số 04 (164) .- Tr. 76 – 87 .- 340
Đối với mọi hệ thống pháp luật công nhận án lệ, bất kể sự khác biệt trong quá trình hình thành và hình thức biểu hiện của án lệ ở mỗi nơi, tình tiết cốt lõi của tranh chấp đóng vai trò quan trọng trong lập luận pháp lý của một bản án, có ảnh hưởng tới phán quyết của tòa án. Bài viết này sẽ nghiên cứu cách tiếp cận của pháp luật Anh về ratio decidendi và so sánh với án lệ ở Việt Nam, để từ đó chứng minh việc xác định tình tiết cốt lõi của vụ án và phép suy luận tương tự được coi là trọng tâm của án lệ.
2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự cần thiết của việc quy định về cộng tác viên thanh tra trong luật thanh tra (sửa đổi) và các văn bản hướng dẫn thực hiện / Đặng Tất Dũng // Khoa học pháp lý .- 2023 .- Số 04 (164) .- Tr. 88 – 96 .- 340
Trong các đoàn thanh tra hiện nay, bên cạnh thanh tra viên thì các cộng tác viên thanh tra (CTVTT) cùng là những thành viên quan trọng vì CTVTT là những chuyên gia có hiểu biết sâu sắc trong các lĩnh vực cụ thể. Sự tham gia của các CTVTT đã nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra thông qua việc góp phần vào sự đánh giá sâu sắc những vấn đề mang tính chuyên môn sâu. Tuy nhiên, Dự thảo Luật Thanh tra (sửa đổi) của Quốc hội khóa XV không quy định về hoạt động của CTVTT. Điều này có thể mang đến những hạn chế trong hoạt động thanh tra trong giai đoạn sắp tới. Bài viết phân tích vai trò, hoạt động của CTVTT trong hoạt động thanh tra từ Pháp lệnh thanh tra năm 1990 đến nay và đưa ra những khuyến nghị về sự cần thiết có quy định ghi nhận về CTVTT hoạt động trong Dự thảo Luật Thanh tra (sửa đổi).
3 Xác định địa vị pháp lý của trí tuệ nhân tạo / Nguyễn Tấn Hoàng Hải, Ngô Thị Phương Nam // Khoa học pháp lý .- 2023 .- Số 04 (164) .- Tr. 97 – 114 .- 340
Sự phát triển nhanh chóng và không ngừng của khoa học công nghệ, nhất là trí tuệ nhân tạo đã mang đến những lợi ích tối ưu cho con người, song điều đó cũng làm xuất hiện nhiều thách thức. Trí tuệ nhẫn tạo không chỉ đơn thuần tham gia cùng với sự hỗ trợ của con người mà có thể hoạt động một cách độc lập, tự quyết định, tự xác lập các giao dịch. Điều này làm dấy lên những băn khoăn của con người về địa vị pháp lý của trí tuệ nhân tạo. Bài viết này sẽ tập trung phân tích địa vị pháp lý của trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam cũng như một số quốc gia trên thế giới, làm rõ sự cần thiết phải xác định địa vị pháp lý của trí tuệ nhân tạo từ đó có những ý kiến đóng góp hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành về trí tuệ nhân tạo.
4 Bàn về hiệu lực của thỏa thuận không cạnh tranh từ nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân trong hiến pháp năm 2013 / Lê Đình Quang Phúc, Ngô Hữu Phước // Khoa học pháp lý .- 2023 .- Số 04 (164) .- Tr. 1 – 12 .- 340
Thỏa thuận không cạnh tranh trong quan hệ lao động thường được người sử dụng lao động sử dụng như công cụ để bảo vệ bí mật kinh doanh của mình trước nguy cơ bị rò rỉ từ người lao động. Mặc dù thỏa thuận này giúp bảo vệ quyền lợi chính đáng của người sử dụng lao động, nó cũng hạn chế quyền làm việc của người lao động. Trong bài viết này, tác giả phân tích nguyên tắc hạn chế quyền công dân, quyền con người trong Hiến pháp năm 2013 để làm rõ vấn đề hiệu lực của thỏa thuận không cạnh tranh trong quan hệ lao động tại Việt Nam.
5 Từ vụ việc của ngân hàng thương mại cổ phần sài gòn đến hoàn thiện pháp luật bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam / Lê Đình Quang Phúc, Ngô Hữu Phước // Khoa học pháp lý .- 2023 .- Số 04 (164) .- Tr. 13 – 21 .- 340
Vụ việc của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn (Sai Gon Joint Stock Commercial Bank, SCB) cho thấy một số tồn tại, hạn chế của pháp luật bảo hiểm tiền gửi. Nói cách khác, pháp luật bảo hiểm tiền gửi chưa thật sự tạo dựng được sự tin tưởng cho người gửi tiền và giữ ổn định hệ thống ngân hàng. Chính vì vậy, cần có sự nghiên cứu về các hạn chế của pháp luật bảo hiểm tiền gửi qua vụ việc của ngân hàng SCB để từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo hiểm tiền gửi và góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
6 Vận dụng học thuyết tác động và học thuyết một thực thể kinh tế để thiết lập quyền kiểm soát các giao dịch tập trung kinh tế ngoài lãnh thổ ở trung quốc và kinh nghiệm cho Việt Nam / Trần Thị Trúc Thanh, Hà Thị Thanh Bình // Khoa học pháp lý .- 2023 .- Số 04 (164) .- Tr. 22 – 34 .- 340
Các quốc gia luôn mong muốn kiểm soát những giao dịch tập trung kinh tế ngoài lãnh thổ có ảnh hưởng đến cạnh tranh trên thị trường nội địa. Mặc dù vậy, việc kiểm soát này cần phải được thiết lập trên các cơ sở được quốc tế công nhận. Bài viết này phân tích những nội dung chính của học thuyết “tác động” và học thuyết “một thực thể kinh tế” và việc vận dụng chúng trong việc kiểm soát tập trung kinh tế ngoài lãnh thổ của Trung Quốc, từ đó đề xuất một số kinh nghiệm cho Việt Nam.
7 Pháp luật lao động với chính sách việc làm an ninh và linh hoạt nhằm mục đích phát triển bền vững ở việt nam: Thực trạng và một số kiến nghị / Trần Thị Thủy Lâm // Khoa học pháp lý .- 2023 .- Số 04 (164) .- Tr. 35 – 47 .- 340
Chính sách việc làm an ninh và linh hoạt đã được nhiều nước áp dụng bởi nó tạo ra thị trường lao động năng động, phát triển nhưng vẫn đảm bảo được an ninh việc làm cho người lao động. Để thực hiện chính sách này, cần phải có sự tham gia của nhiều ngành luật, đặc biệt là pháp luật lao động. Cùng với pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp (chính sách việc làm thụ động), pháp luật về dịch vụ việc làm, đào tạo nghề (chính sách việc làm tích cực), pháp luật lao động (pháp luật về bảo hộ việc làm) đã tạo khung pháp lý cho thị trường lao động phát triển, năng động và linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo yếu tố an ninh. Bài viết này sẽ phân tích chính sách việc làm an ninh và linh hoạt, đánh giá thực trạng pháp luật lao động về an ninh linh hoạt đồng thời đưa ra những kiến nghị nhằm phát triển việc làm bền vững ở Việt Nam.
8 Hoà giải trực tuyến trên nền tảng hợp đồng thông minh: Triển vọng cho giao dịch tiền ảo tại Việt Nam / Ngô Nguyễn Thảo Vy // Khoa học pháp lý .- 2023 .- Số 04 (164) .- Tr. 48 – 61 .- 340
Blockchain, được biết đến là công nghệ đứng sau hầu hết các loại tiền điện tử, có các ứng dụng khác nhau trong nhiều lĩnh vực mà một trong số đó là giải quyết tranh chấp. Với sự trợ giúp của các hợp đồng thông minh, các giao thức xử lý thông tin và tìm kiếm giải pháp dựa trên lý thuyết trò chơi, tối ưu hóa lợi ích kinh tế của các bên và có khả năng tự thực thi trên blockchain. Phương thức hoà giải dựa trên nền tảng này không chỉ đưa ra những khái niệm mới về thượng tôn pháp luật, tiếp cận công lý trong kỷ nguyên số, mà còn tỏ ra ưu việt hơn cơ chế hòa giải truyền thống về mặt khuyến khích đàm phán và thực thi. Đây cũng là ứng dụng nhiều tiềm năng để quản lý rủi ro và giải quyết tranh chấp về giao dịch tiền ảo tại Việt Nam - một thị trường ngày càng lớn mạnh trên trường quốc tế.
9 Kinh nghiệm của các nước trong quản lý thuế hoạt động kinh doanh thương mại điện tử và bài học cho Việt Nam / Đào Thị Phương Liên, Đoàn Cao Minh // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2023 .- Số 634 .- Tr. 54 – 56 .- 658
Thương mại điện tử đã phát triển nhanh chóng và tác động mạnh mẽ tới hoạt động đầu tư thương mại toàn cầu. Tại Việt Nam, Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 có hiệu lực từ ngày 1/7/2020, đã bổ sung những quy định liên quan đến quản lý thuế hoạt động thương mại điện tử, tuy nhiên, quản lý thuế đối với hoạt động thương mại xuyên biên giới đang đặt ra những thách thức không nhỏ đối với Việt Nam. Trong bài viết, tác giả phân tích kinh nghiệm quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử ở một số quốc gia, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm đối với Cơ quan thuế Việt Nam.
10 Giải pháp vận dụng nguyên tắc giá trị hợp lý trong trình bày báo cáo tài chính tại Việt Nam / Hoàng Thu Hiền // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2023 .- Số 634 .- Tr. 57 – 59 .- 657
Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế, tại nhiều quốc gia, việc áp dụng các cơ sở định giá tài sản theo giá thị trường, thay thế dần nguyên tắc giá gốc trong trình bày tài sản trên báo cáo tài chính đang trở nên phổ biến. Điều này cho thấy, xu thế định giá tài sản trên báo cáo tài chính đang hướng đến giá trị hợp lý, kết hợp nhiều loại định giá khác nhau, nhằm đáp ứng đầy đủ hơn yêu cầu thông tin của người sử dụng và tạo thuận lợi cho công tác kế toán.