Đào tạo pháp luật thực hành (CLE) hình thành trong thực tiễn cải cách và đổi mới đào tạo cử nhân luật ở các nước trên thế giới. Từ chỗ ban đầu chỉ có một số quốc gia ứng dụng CLE trong đào tạo luật, đến nay CLE đã phát triển và nhân rộng ra trên phạm vi toàn cầu. Việt Nam cũng đã bước đầu tiếp cận và ứng dụng phương pháp CLE trong đào tạo cử nhân luật. Tuy vậy, thực tiễn cho thấy rằng, CLE ở Việt Nam vẫn còn ở giai đoạn đầu của sự phát triển, do đó, các giá trị của CLE đối với đào tạo luật chưa thực sự được bộc lộ rõ ràng. Bài viết nghiên cứu về CLE với tư cách là một phương thức hỗ trợ cải tiến và nâng cao chất lượng đào tạo luật và triển vọng áp dụng ở Việt Nam. Công trình dựa trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm CLE trên thế giới và thực tiễn xây dựng và vận hành các chương trình CLE ở Việt Nam. Trong phạm vi của bài viết, các nội dung trình bày và thảo luận bao gồm: 1) đào tạo pháp luật thực hành – một phương pháp giảng dạy luật tiên tiến trên thế giới; 2) thực trạng áp dụng CLE trong đào tạo luật ở Việt Nam; và 3) triển vọng phát triển của CLE Ở Việt Nam: các vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu.
Các thách thức ngày càng lớn, từ quá trình đô thị hóa, sự phát triển mạnh đã và đang đặt ra yêu cầu tất yếu cần phải hình thành các đô thị đáng sống hơn, phát triển bền vững hơn, thông minh hơn. Bắt kịp với xu thế toàn cầu và quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, Việt Nam đã và đang vận hành các chiến lược xây dựng các thành phố thông minh tại TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, TP. Đà Nẵng... Tuy nhiên, quá trình xây dựng và triển khai các thành phổ thông minh trên cả nước đã và đang gặp thách thức. Bài viết làm rõ nội hàm, việc ứng dụng công nghệ để đổi mới sáng tạo nền kinh tế hướng tới “thông minh” trong dài hạn và đưa ra một số hàm ý chính sách trong bối cảnh phát triển đô thị thông minh tại Việt Nam.
Việc sở hữu nguồn cung lao động trẻ và dồi dào, giữa lúc nhiều quốc gia đang phải đau đầu vì vấn đề gia hóa dân số là một trong những lý do các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao thị trường Việt Nam. Trong quá trình hội nhập, nhu cầu tuyến lao động trình độ ngày càng tăng. Tuy nhiên, có một thực tế là ở những phân khúc việc làm yêu cầu trình độ cao, lao động Việt Nam được đánh giá tốt về tinh thần sẵn sàng học hỏi và làm việc chăm chỉ nhưng lại gặp nhiều trở ngại về tiếng Anh. Cách mạng công nghệ bùng nó đã làm thay đổi nhiều lĩnh vực trong đó có giáo dục. Người ta bắt đầu đưa các cách thức dạy-học kiểu mới, có ứng dụng khoa học công nghệ trong giảng dạy tiếng Anh và bước đầu thu được hiệu quả, tiêu biểu như các khoá học kết hợp.
Công nghiệp văn hóa sáng tạo là một xu hướng phát triển văn hóa ở các quốc gia trong thời đại kỹ thuật a. Đây là sự kết hợp giữa văn hóa và kinh tế để làm sao vừa thúc đẩy bảo tồn và phát huy các giá trị văn đau vừa tạo ra doanh thu, việc làm, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững Việt Nam đã nhận thức và xây dựng khung chính sách từ khá sớm trong lĩnh vực này, nhưng cần cải thiện hơn nữa việc nghiên cứu và hiệu quả triển khai các chính sách đã đề ra.
Khái niệm “kinh tế ban đêm” xuất hiện từ những năm cuối thế kỷ XX, tạo ra bước chuyển lớn d ngành du lịch, dịch vụ, giải trí, văn hóa ở nhiều quốc gia trên thế giới phát triển. Không nhữn tế ban đêm có những đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế, xã hội nói chung của nhà gia, trong đó có Anh, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc... Việt Nam đã hội tụ nhiều điều kiện để phá tế ban đêm nhờ nguồn tài nguyên du lịch đa dạng, phong phú; văn hóa nghệ thuật và ẩm tĩ Năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày 27/7/2020 án phát triển kinh tế ban đêm ở Việt Nam. Bài viết tổng hợp khái quát các vấn đề xoay qua đêm và cơ hội phát triển kinh tế ban đêm tại Việt Nam.
Đối với các doanh nghiệp khai khoáng hoạt động logistics thu hồi diễn ra chủ yếu trong giai đoạn sản xuất, bởi trong quá trình này các doanh nghiệp sử dụng nhiều loại vật tư, thiết bị với số lượng lớn, đồng thời thải ra môi trường vật tư cũ, vật tư phế liệu và nhiều loại chất thải khác nhau (gọi chung là chất thải) với yêu cầu về phương tiện vận tải cũng như phương pháp xử lý khác nhau. Bài báo này đề cập đến quý trình logistics thu hồi của các doanh nghiệp khai khoáng với những đặc thù nhất định, từ đó đề xuất một số kiến nghị làm cơ sở để tổ chức, thực hiện hoạt động logistics thu hồi một cách hợp lý và hiệu quả.
Bài viết phân tích, đối sánh về chương trình đào tạo nguồn lực thi hành án dân sự ở châu Âu, điển hình là Cộng hòa Pháp, Vương quốc Bỉ và chương trình đào tạo nghiệp vụ thi hành án, nghề thừa phát lại của Học viện Tư pháp Việt Nam, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm, giải pháp cho việc xây dựng chương trình đào tạo ngành Luật, chuyên ngành Luật thi hành án dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội.
Bài báo này tập trung nghiên cứu phương pháp phân tích các nhân tố tác động tới hiệu quả hay còn gọi là sức tạo ra lợi nhuận của thu nhập người lao động trên cơ sở vận dụng phương pháp chỉ số mở rộng. Qua đó, giúp chúng ta nắm bắt được những nhân tố nào và chiều hướng, mức độ của từng nhân tố tác động tới lợi nhuận. Đây là cơ sở xác định nguyễn nhân, có định hướng, giải pháp giám sát và nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp.
Trong giai đoạn phát triển nền kinh tế số hiện nay, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI - Artificial Intelligence) đang được quan tâm trong hầu hết các ngành nghề. Quản trị nguồn nhân lực (HRM - Human Resource Management) cũng không nằm ngoài xu thế ứng dụng công nghệ hiện đại này. Để giải quyết vấn đề thu thập thông tin ưu tiên và dựa trên quy trình công việc chính hệ thống đề xuất, bài viết sử dụng mô hình học sau thiết kế cấu trúc tổng thể và triển khai hệ thống nguyên mẫu, từ đó có thể khắc phục tốt hơn vấn đề khởi đồng nguội và cung cấp kết quả đề xuất theo thời gian thực, cải thiện chất lượng, cá nhân hóa nguồn nhân lạc (HR - Human Resources), tăng trải nghiệm người dùng và đáp ứng nhu cầu của họ dễ dàng hơn.
Hoạt động thương mại điện tử trong những năm qua có sự phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ đã đặt ra bài toán về công tác quản lý cho ngành Thuế. Bài viết này nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý thuế thương mại điện tử để xác định một số khó khăn trong hoạt động quản lý thuế, phân tích nguyên nhân, từ đó giúp cho việc thu đúng, thu đủ thuế thương mại điện tử trở nên dễ dàng hơn, góp phần đảm bảo nguồn thu và tránh thất thu ngân sách nhà nước.