Nghiên cứu này tập trung vào việc khám phá mối quan hệ giữa ERM, CNTT, văn hóa tổ chức, lợi thế cạnh tranh và hiệu quả hoạt động phi tài chính trong một mô hình đường dẫn. Kết quả khảo sát từ 127 DN được phân tích bằng kỹ thuật PLS cho thấy ERM ảnh hưởng tích cực đến lợi thế cạnh tranh và hiệu quả hoạt động phi tài chính của DN. Cấu trúc CNTT có tác động điều tiết đến mối quan hệ giữa ERM và lợi thế cạnh tranh. Các kết quả này cung cấp những hàm ý quản trị trong chiến lược tích hợp ERM và CNTT để đạt lợi thế cạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động của DN.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nghiên cứu KTQT dựa trên lý thuyết ngẫu nhiên tập trung vào 03 nội dung: (1) Nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố ngẫu nhiên đến việc thiết kế hệ thống KTQT trong DN; (2) Nghiên cứu sử dụng lý thuyết ngẫu nhiên để kiểm chứng mối quan hệ giữa hệ thống thông tin (HTTT) KTQT, hay việc sử dụng các công cụ KTQT với việc đo lường thành quả DN; (3) Lý thuyết ngẫu nhiên được sử dụng để nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến việc thiết lập và sự hiệu quả của hệ thống kiểm soát, trong đó HTTT kế toán nói chung và KTQT nói riêng là một phần của hệ thống. Từ phân tích kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra các bình luận và định hướng nghiên cứu trong tương lai.
Dữ liệu được phân tích bằng cách sử dụng phần mềm SPSS 22. Kết quả chỉ ra rằng, các tiến bộ công nghệ là không thể thiếu để thiết lập một hệ thống kiểm toán kỹ thuật số hiệu quả. Cần đặc biệt chú ý đến việc chuẩn bị và xây dựng đội kiểm toán ảo, đội ngũ kiểm toán từ xa. Các công ty cần có các biện pháp phòng bị để đảm bảo an ninh mạng. Hình thành các nhóm ảo được cho là có ý nghĩa rất lớn đối với việc thực hiện quy trình kiểm toán. Dựa trên kết quả nghiên cứu, các khuyến nghị được đề xuất nhằm tăng cường kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Bài viết này làm rõ khái niệm về công nghệ số, mô tả các mức độ ứng dụng công nghệ số trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động kế toán nói riêng. Hơn nữa, nó còn đề xuất một giải pháp giúp các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp bị hạn chế về tài chính, đẩy nhanh quá trình ứng dụng công nghệ số vào hoạt động kế toán. Đó là điện toán đám mây.
Khi áp dụng CNTT kế toán có thể cung cấp thông tin tài chính kịp thời, chính xác và đầy đủ cho doanh nghiệp (DN), từ đó nâng cao tính hữu ích của việc ra quyết định, nâng cao hiệu quả và tính chuẩn mực của hoạt động kế toán. CNTT không chỉ thay đổi công cụ kế toán mà còn thay đổi các chức năng của kế toán; không chỉ lý thuyết và nguyên tắc kế toán, mà còn cả nghiệp vụ kế toán.
Bài viết đề xuất mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng hiện hữu của KTNB trong doanh nghiệp niêm yết (DNNY) tại Việt Nam. Sau khi tiến hành tổng quan nghiên cứu và xem xét dựa trên lý thuyết nền, nhóm tác giả đã đưa ra 4 nhóm nhân tố thuộc về đặc điểm của DN có ảnh hưởng đến khả năng hiện hữu của KTNB, bao gồm: Hội đồng quản trị (HDQT); Quản lý; Hệ số nợ của DN; Tỷ lệ các khoản nợ phải thu và Hàng tồn kho trong tổng tài sản của DN.
Sử dụng phương pháp định tính kết hợp với phương pháp định lượng, tác giả thực hiện nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn công ty cung cấp dịch vụ kế toán (DVKT) của các doanh nghiệp thương mại (DNTM) tại TP.HCM. Trên cơ sở đó tác giả đề xuất một số kiến nghị, nhằm giúp nhà quản lý của các đơn vị sử dụng đưa ra lựa chọn một cách đúng đắn. Đồng thời, giúp các đơn vị cung cấp DVKT có những chính sách bán hàng phù hợp với nhu cầu của khách hàng.
Trong nền kinh tế thị trường, nguyên nhân của sự phát triển của KTQT là do sự cạnh tranh giữa các tổ chức, tập đoàn, quốc gia của tổng thể nền kinh tế. Nhưng, trong bất kỳ một tổ chức nào thì thông tin KTQT với chức năng cơ bản là công cụ hữu hiệu để các cấp lãnh đạo đưa ra quyết định điều hành mọi hoạt động, nhằm hướng tới mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.