Trong xã hội hiện đại, khi phát triển bền vững là mục tiêu đặt ra đối với tất cả các quốc gia thì nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là đòi hỏi tất yếu. Để có thể nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, việc hiểu đúng về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và mối quan hệ giữa nghĩa vụ của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật với vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là hết sức cần thiết. Bài viết nghiên cứu khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, phân tích, làm rõ mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và nghĩa vụ của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở phân tích chỉ ra một số hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ của doanh nghiệp, thực trạng vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam, bài viết đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về nghĩa vụ của doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Việt Nam.
Nghiên cứu lựa chọn đối tượng nghiên cứu là hành vi lựa chọn sản phẩm sữa Milo với phạm vi nghiên cứu là người dân trên địa bàn tỉnh Hà Nam, sử dụng phương pháp phân tích định tính kết hợp định lượng, nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập từ kết quả khảo sát các khách hàng đã và đang sử dụng sản phẩm sữa Milo tại Hà Nam với 343 phiếu khảo sát hợp lệ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, có 6 yếu tố ảnh hưởng tới hành vi lựa chọn sản phẩm sữa Milo của người dân tại Hà Nam, bao gồm các yếu tố: Chuẩn chủ quan; Giá cả; Nhận thức sự hữu ích; Chiêu thị và Thương hiệu. Trong đó, yếu tố Chuẩn chủ quan có ảnh hưởng lớn nhất tới hành vi lựa chọn sản phẩm sữa Milo.
Các yếu tố tác động đến động lực làm việc của nhân viên, từ đó giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa hoàn thiện và nâng cao công tác tạo động lực cho nhân viên một cách hiệu quả. Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 300 nhân viên đang công tác tại 5 doanh nghiệp vừa và nhỏ khác nhau trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Trong đó 275 phiếu đạt yêu cầu cho nghiên cứu, nhằm kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích EFA, phân tích tương quan Pearson và phân tích hồi quy tuyến tính. Nghiên cứu đã chỉ ra 03 nhân tố tác động đến động lực làm việc của nhân viên tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Bình Dương, gồm có: (1) Lương thưởng; (2) Điều kiện làm việc và thăng tiến; (3) Đào tạo nhân viên. Trong đó, nhân tố Lương, thưởng có tác động mạnh nhất.
Giáo dục kiến tạo hiện đang là xu hướng phát triển trong các loại hình trường của nhiều quốc gia trên thế giới, Và ở Việt Nam hiện nay, phương pháp giáo dục kiến tạo đang được nhiều trường đại học quan tâm, phát triển nhằm tăng cường cho người học khả năng tự xây dựng cho mình một hệ thống tri thức có sắc thái riêng và có khả năng vận dụng những tri thức mới vào các vấn đề do thực tiễn đặt ra thông qua các phương pháp dạy học đặc thù. Bài viết nhằm nâng cao nhận thức của giảng viên về hiệu quả của việc đặt câu hỏi phù hợp trong lớp học nhằm thúc đẩy hơn nữa sự tương tác giữa giảng viên và người học.
Để pháp luật về hải quan và các quy định quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được thực thi nghiêm minh, đạt hiệu lực, hiệu quả cao trong thực tế; góp phần quan trọng để xây dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể tham gia hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa thì một trong những công cụ cần đến là xử phạt vi phạm hành chính. Bài viết này đề cập đến đặc điểm công tác xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực hải quan, thực trạng quy định pháp luật và một số giải pháp.
Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường và con người năm 1972 - tức là tròn 50 năm năm trước tại Stockholm, lần đầu tiên vấn đề an ninh môi trường mới được nêu ra - đánh dấu bước phát triển quan trọng của nhận thức và nỗ lực chung của toàn nhân loại trong việc giải quyết các vấn đề về môi trường. Đến nay phát triển bền vững, có sự điều tiết hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với đảm bảo an ninh xã hội và bảo vệ môi trường đã trở thành mối quan tâm phổ biến của các quốc gia trên thế giới và trở thành mục tiêu thiên niên kỳ. Tại Việt Nam, vấn đề đảm bảo an ninh môi trường nhằm phát triển bền vững cũng được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và chú trọng.
Bài viết nghiên cứu và phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về tiêu chuẩn đấu giá viên, trên cơ sở so sánh với tiêu chuẩn đấu giá viên theo quy định pháp luật của Pháp) và Trung Quốc - hai quốc gia không những có đội ngũ đấu giá viên hùng hậu với bề dày cả về kinh nghiệm và chuyên môn mà còn có hoạt động đấu giá phát triển sôi động. Từ đó, bài viết chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật Việt Nam, học hỏi kinh nghiệm lập pháp của Pháp và Trung Quốc, để đưa ra một số phương hướng nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tiêu chuẩn đấu gia viên, theo định hướng đấu giá tài sản là ngành, nghề kinh doanh với đầy đủ ý nghĩa, bản chất của nó trên thị trường.
Nghiên cứu về Công nghệ mới nổi của Tổ chức Hải quan Thế giới năm 2019 cho tiên tiến đã tác động đáng kể đến quy trình thủ tục hải quan, mang lại nhiều lợi ích như: công nghệ chuỗi, Internet vạn vật, phân tích dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và học máy, sinh trắc học, máy bay không người lái, thực tế ảo và tăng cường, in 3D... Trong quá trình ứng dụng thành tựu Cách mạng công nghiệp 4.0 vào thương mại quốc tế, những sáng kiến bắt nguồn từ sự kết hợp của Tổ chức Hải quan Thế giới và Tổ chức Thương mại Thế giới luôn được đánh giá cao. Tại Việt Nam, việc ứng dụng thành tựu của Cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đã và đang được đẩy mạnh để mở ra những triển vọng mới.
Ngành logistics hiện đang tăng trưởng với tốc độ khoảng 20%/năm và được dự báo sẽ duy trì mức tăng trưởng hai con số trong ít nhất 5 đến 10 năm tới. Phần lớn các doanh nghiệp logistics tại Việt Nam là các nhà cung cấp bên thứ hai Second Party Logistics (2PL), khác với tại các thị trường phát triển hơn, chủ yếu thuộc về các nhà cung cấp bên thứ ba (3PL) và nhà cung cấp dịch vụ quản lý chuỗi cung ứng khép kín. Ngành logistics của Việt Nam với tổng trị giá ước tính khoảng 60 tỷ USD hiện đang tăng trưởng nhanh chóng, tuy nhiên mức độ phát triển vẫn còn tương đối sơ khai trong điều kiện bùng nỗ về các hãng vận chuyển và kho bãi và công nghệ.
Dịch vụ cung ứng điện là lĩnh vực đặc thù và quan trọng trong nền kinh tế xã hội. Thực hiện chủ trương, chính sách của nhà nước về đảm bảo an ninh năng lượng, nâng cao chất lượng cung ứng điện thoả mãn nhu cầu xã hội là nhiệm vụ mang tính chính trị mà cả ngành điện hướng tới. Công tác cung ứng điện tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long có ý nghĩa lớn cho phát triển kinh tế xã hội của khu vực, nghiên cứu về chất lượng dịch vụ cung ứng điện được lựa chọn và thực hiện nhằm đóng góp thêm cho việc cải tiến nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng.