Xác định mức độ đau trong ngày hậu phẫu thứ 3 và lượng thuốc giảm đau fentanyl trong 24 giờ của người bệnh khi chườm lạnh kết hợp với phương pháp giảm đau tự kiểm soát trên người bệnh thay khớp háng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả dọc tiến cứu được thực hiện trên 48 người bệnh phẫu thuật thay khớp háng tại Bệnh viện Chợ Rẫy, từ tháng 8/2024 đến tháng 6/2025. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án, ghi nhận tự đánh giá đau bằng thang điểm VAS và tổng lượng thuốc sử dụng qua bơm tự kiểm soát thuốc bằng đường tĩnh mạch. Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng STATA 14.0, các biến số được mô tả bằng tần số, tỷ lệ phần trăm, trung bình và độ lệch chuẩn. Kết quả: Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng có 87,5% người bệnh mức độ đau nhẹ và 12,5% đau vừa vào ngày hậu phẫu thứ 3. Số lượng thuốc giảm đau fentanyl trong 24 giờ có chườm lạnh kết hợp với phương pháp giảm đau tự kiểm soát trên người bệnh thay khớp háng là 178,35 ± 44,45 mcg. Kết luận: Chườm lạnh kết hợp với phương pháp giảm đau tự kiểm soát giúp người bệnh duy trì mức độ đau trong khoảng nhẹ - vừa ở giai đoạn sớm sau phẫu thuật thay khớp háng. Đây là sự kết hợp hứa hẹn mang lại hiệu quả trong chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật thay khớp háng.
Với phình động mạch chủ bụng (AAA), nguy cơ vỡ tăng theo kích thước: trong 5 năm đối với khối phình dưới 5 cm là 1%–2%, trong khi với khối phình trên 5 cm là 20%–40%. AAA chiếm khoảng 1% số ca tử vong ở nam giới trên 65 tuổi và là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 10 ở nam giới từ 65 tuổi trở lên. Tỷ lệ tử vong do vỡ AAA là hơn 80%. Do đó, chẩn đoán và điều trị sớm trước khi vỡ là rất quan trọng. Đặt stent-graft (EVAR) là can thiệp nội mạch loại bỏ khối phình mà không cần phẫu thuật. Theo nghiên cứu của chúng tôi, trong 2 năm có 5 bệnh nhân được chấn đoán AAA vỡ được can thiệp nội mạch bằng phương pháp bơm bóng ngược dòng ĐMC kết hợp EVAR. Kết quả can thiệp, có 1 ca tử vong sau can thiệp do nhiễm trùng nhiễm độc ổ bụng (20%), 4 ca ổn định và xuất viện (80%), thời gian nằm viện trung bình là 7.4 ngày. Kĩ thuật này có thể triển khai nhanh giúp rút ngắn thời gian cầm máu, loại bỏ khối phình vỡ, cứu sống người bệnh.
Mô tả các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và diễn tiến bệnh một trường hợp viêm não tự miễn do kháng thể kháng thụ thể NMDA tái phát nhiều lần trong vòng hai năm dù đã điều trị duy trì bằng thuốc ức chế miễn dịch tại khoa Thần kinh bệnh viện Nhi Đồng 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Báo cáo ca lâm sàng. Kết quả: Bệnh nhi nữ 14 tuổi, khởi phát lần đầu với các triệu chứng rối loạn hành vi, co giật và loạn động. Dịch não tủy dương tính với kháng thể kháng thụ thể NMDA. Đã được điều trị với Methylprednisolone tĩnh mạch và thay huyết tương, sau đó phục hồi và tái phát ba lần nữa trong hai năm tiếp theo. Mỗi lần tái phát đều có biểu hiện lâm sàng tương tự nhưng mức độ không nặng như lần đầu và dương tính với kháng thể kháng thụ thể NMDA. Sau lần tái phát thứ tư, bệnh nhi được chuyển sang điều trị bằng Rituximab với đáp ứng tốt. Kết luận: Báo cáo ca lâm sàng này minh họa thách thức trong điều trị duy trì và phòng ngừa tái phát viêm não tự miễn do kháng thể kháng thụ thể NMDA ở trẻ em. Cân nhắc sử dụng Rituximab sớm có thể giúp giảm tái phát và tránh tác dụng phụ của corticoid kéo dài.
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân gãy kín đầu dưới xương đùi được phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp khóa tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ. Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu hồi cứu mô tả, trên 32 bệnh nhân gãy kín đầu dưới xương đùi được phẫu thuật điều trị bằng phương pháp kết xương nẹp vis khóa được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ tháng 03/2021 đến 03/2024. Kết quả: Đặc điểm chung: Cơ chế: 93,8% chấn thương trực tiếp. Nguyên nhân: tai nạn giao thông chiếm 56,3%, tai nạn sinh hoạt chiếm 34,4%. Chi gãy: 56,2% chân trái, 93,8% bệnh nhân thuận chân phải. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng: Chi gãy: 56,2% chân trái, 93,8% bệnh nhân thuận chân phải. Phân loại theo AO: loại A 56,3%, loại C 31,3%. Đường gãy: trên lồi cầu 56,3%, liên lồi cầu 31,3%.
Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực trạng nuôi dưỡng ở người bệnh viêm tụy cấp tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 113 người bệnh VTC điều trị nội trú từ 8/2024–7/2025. Kết quả: Tỷ lệ nuôi dưỡng sớm ( ≤ 48h) đạt 83,2%. Nhóm < 60 tuổi được nuôi dưỡng sớm cao hơn so với nhóm ≥ 60 tuổi (OR=3,55; 95%CI=1,23–10,21). Người bệnh có điểm mNUTRI ≥ 5 hoặc APACHE II ≥ 20 có xu hướng được nuôi dướng sớm nhiều hơn (p<0,05). Không ghi nhận liên quan có ý nghĩa giữa thời điểm nuôi dưỡng và giới tính, BMI, điểm SOFA, phân loại VTC theo Balthazar/CTSI, nguyên nhân VTC hay bệnh lý kèm theo (p>0,05). Kết luận: Đa số người bệnh VTC được nuôi dưỡng sớm. Nuôi dưỡng sớm qua đường tiêu hóa chiếm tỷ lệ cao ở người bệnh viêm tụy cấp, đặc biệt ở nhóm tuổi <60, mNUTRIC ≥5 và APACHE II ≥20. Việc áp dụng nuôi dưỡng sớm an toàn, có lợi, góp phần giảm biến chứng và rút ngắn thời gian điều trị.
Mô tả thực trạng hội chứng dễ bị tổn thương và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi mắc suy tim mạn tính. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 168 người cao tuổi được chẩn đoán suy tim mạn tính đến khám và điều trị tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương. Hội chứng dễ bị tổn thương được đánh giá bằng thang điểm REFS. Kết quả: tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 77,6 ± 8,9. Nữ chiếm 63,7%. 97% người cao tuổi sống cùng gia đình. 89,3% người cao tuổi trong nghiên cứu mắc suy tim dưới 5 năm. 59,5% đối tượng có suy tim trái, 40,5% suy tim toàn bộ. Tỉ lệ hội chứng dễ bị tổn thương ở người bệnh cao tuổi có suy tim mạn tính là 46,4%, 26,8% người bệnh có tiền hội chứng dễ bị tổn thương. Tuổi cao có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với hội chứng dễ bị tổn thương. Kết luận: Tỷ lệ mắc hội chứng dễ bị tổn thương ở người cao tuổi bị suy tim khá cao (46,4%) và có mối liên quan với tuổi cao. Cần sàng lọc sớm hội chứng dễ bị tổn thương để có thể có các biện pháp dự phòng để giảm nguy cơ xuất hiện các biến cố bất lợi ở nhóm đối tượng trên.
Mô tả đặc điểm hình ảnh thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng trên cộng hưởng từ và triệu chứng lâm sàng ở bệnh nhân có hội chứng chèn ép rễ thần kinh hông to. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 102 bệnh nhân được khám có hội chứng chèn ép rễ thần kinh hông to và được chụp cộng hưởng từ cột sống thắt lưng tại Bệnh viện E từ tháng 01 năm 2025 đến tháng 06 năm 2025. Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0. Kết quả: Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng hay gặp ở lứa tuổi 30-50, tuổi trung bình là 41,33 ± 15,692. Tỉ lệ nam/nữ = 1,2. Lâm sàng bệnh nhân thường xuất hiện triệu chứng <12 tuần, đau ở mức độ nhẹ - vừa với điểm VAS trung bình là 3,89 ± 1,534, có triệu chứng đau tại cột sống thắt lưng, nghiệm pháp Lasègue dương tính, đau dọc theo rễ L5 và S1. Trên cộng hưởng từ, đĩa đệm L4/5 và L5/S1 hay bị thoát vị nhất, đa số thoát vị thể trung tâm, gây hẹp ống sống và chèn ép rễ thần kinh độ 1. Kết luận: Triệu chứng lâm sàng thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng đa dạng. Cộng hưởng từ có vai trò rất quan trọng giúp chẩn đoán sớm, chính xác và định hướng điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng.
Mô tả thực trạng can thiệp cấp cứu ngoại viện và kết quả cấp cứu bệnh nhân chấn thương sọ não tại một số bệnh viện tại Hà Nội. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang; hồi cứu bệnh nhân ≥ 18 tuổi, được nhập viện từ 1/1/2025 đến 30/6/2025 tại 3 bệnh viện tại Hà Nội. Kết quả: Kết quả cho thấy nam giới chiếm 70,8%, độ tuổi trung bình 49,98 ± 18,73; nhóm tuổi lao động (18–60) chiếm đa số. Nguyên nhân chủ yếu là tai nạn giao thông (58%). Có 66,2% bệnh nhân được vận chuyển bằng xe cấp cứu và 60% được sơ cứu bởi nhân viên y tế, trong đó các kỹ thuật thường gặp nhất là cố định cột sống cổ và băng cầm máu. Các thủ thuật nâng cao về kiểm soát đường thở không được triển khai tại hiện trường. Tỷ lệ tử vong chung là 26,15%, trong đó tử vong do chấn thương chiếm 20%. Các yếu tố nguy cơ tử vong bao gồm tổn thương sọ não nặng (AIS ≥4), ISS ≥ 16, tụt huyết áp và hạ oxy máu ngoại viện. Kết luận: Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò quan trọng của cấp cứu ngoại viện trong cải thiện kết cục lâm sàng bệnh nhân chấn thương sọ não.
Nghiên cứu mô tả cắt ngang tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ 8/2023 đến 7/2025 trên 116 khớp được chẩn đoán lâm sàng mắc hội chứng rối loạn nội khớp thái dương hàm (TDH) có triệu chứng hạn chế há miệng. Tất cả các bệnh nhân được khai thác triệu chứng hạn chế há miệng và đo độ há miệng tối đa, sau đó được chụp cộng hưởng từ (CHT) khớp TDH. Từ đó đưa ra nhận xét các đặc điểm hình ảnh trên phim CHT về hình dạng, vị trí đĩa khớp và tình trạng tổn thương lồi cầu ở nhóm bệnh nhân này. Rối loạn nội khớp có hạn chế há miệng hay gặp ở nữ giới với tỉ lệ nữ/nam là 1,97, độ tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân là 24,68 ± 12,1 tuổi và đa phần các bệnh nhân đều nằm trong nhóm tuổi lao động. Biến dạng đĩa khớp hay gặp nhất là dạng gập với 33 đĩa khớp chiếm 33,6%, di lệch đĩa khớp ra trước với góc đĩa khớp lồi cầu >30 độ chiếm đa số với 78,4% các trường hợp và các trường hợp này đa phần đều đã có tổn thương lồi cầu ở các mức độ khác nhau (62,9% các trường hợp).
Tổn thương thần kinh quay đoạn cánh tay là một dạng tổn thương thần kinh ngoại biên thường gặp, đặc biệt do chấn thương. Nếu không được điều trị đúng cách nó có thể gây ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt và lao động của người bệnh. Bài báo này nhằm mục đích đánh giá kết quả điều trị tổn thương thần kinh quay đoạn cánh tay do chấn thương bằng kỹ thuật vi phẫu. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp hồi cứu và tiến cứu trên các bệnh nhân có tổn thương thần kinh quay đoạn cánh tay do chấn thương, được điều trị từ 01/2020 đến 07/2025. Theo dõi các biến số tuổi, giới, nguyên nhân, phương pháp phẫu thuật, kết quả sau mổ. Sử dụng thang điểm BMRC để đánh giá hồi phục chức năng. Kết quả: Trong 60 bệnh nhân được nghiên cứu thời gian theo dõi tối thiểu là 6 tháng sau phẫu thuật và bệnh nhân theo dõi lâu nhất là 65 tháng. Tổn thương chủ yếu gặp ở nam giới (80%) trong độ tuổi lao động (18–60 tuổi: 80%), nguyên nhân phổ biến nhất là tai nạn giao thông (40%). Thời gian can thiệp trước 3 tháng mang lại kết quả tốt hơn. Tỷ lệ phục hồi vận động M3–M5 đạt 83,3%, cảm giác mức S3–S4 đạt 85%. Kết luận: Điều trị sớm và đúng kỹ thuật, đặc biệt là áp dụng kỹ thuật vi phẫu trong điều trị cho thấy sự hồi phục đáng kể cả về chức năng vận động và cảm giác ở những bệnh nhân tổn thương thần kinh quay.