Nghiên cứu cách nhà văn Kazuo Ishiguro kiến tạo biểu tượng mặt trời trong tiểu thuyết Klara và mặt trời như
trung tâm của một dạng thức “tâm linh mặt trời” trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo. Thông qua việc phân tích đức tin cùng những trải nghiệm của nhân vật chính – AF Klara đối với mặt trời như một thực thể có quyền năng chữa lành và cứu rỗi con người khỏi lằn ranh sinh tử, bài báo đã chỉ ra rằng tác phẩm đã đặt con người, công nghệ và cảm xúc trong một phạm vi liên kết nhất định.
Trong Hán ngữ hiện đại, “一点儿” và “一些” tồn tại nhiều hình thức biến thể, trong đó có những cách viết tương đồng về ý nghĩa, cũng có những cách viết khác biệt về ngữ nghĩa và chức năng. Đây cũng là một điểm ngữ pháp khó đối với người học tiếng Hán. Phân tích các hình thức biến thể này, đồng thời làm rõ đặc điểm tri nhận ngôn ngữ của người nói trong phạm vi biểu thị “danh lượng” và “động lượng” khi lựa chọn và sử dụng “一点儿 ” và “一些”.
Giới thiệu một hệ thống khuyến nghị tài liệu học tập cá nhân hóa dựa trên lịch sử tương tác của sinh viên trong hệ thống LMS (Learning Management System). Hệ thống triển khai và so sánh hai phương pháp chính: Lọc cộng tác dựa trên người dùng (CF) và Lọc theo nội dung (CBF), đồng thời áp dụng mô hình lai (Hybrid) để nâng cao hiệu quả. Thử nghiệm trên bộ dữ liệu giả lập gồm 500 sinh viên và 10.000 tài liệu cho thấy CF đạt Precision 55%, Diversity 68%, CBF đạt Precision 63%, Diversity 33% trong khi mô hình lai (Hybrid) đạt Precision 57%, Diversity 67% cải thiện chất lượng khuyến nghị.
Trình bày một nghiên cứu so sánh giữa mô hình học máy truyền thống NBC và phương pháp phân loại dựa trên PhoBERT trong bài toán phân tích phản hồi bằng tiếng Việt của sinh viên, bao gồm hai nhiệm vụ là phân loại chủ đề phản hồi và đánh giá mức độ cảm xúc.
Phân tích về vai trò của hương ước trong việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường tại các làng nghề ở Việt Nam, từ đó đưa ra các nhận xét, đánh giá và những kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của hương ước trong việc bảo vệ môi trường làng nghề.
Trao đổi về việc áp dụng phương pháp giảng dạy pháp luật cộng đồng trong giảng dạy thực hành luật đối với học phần Tranh tài giải pháp (PBL 396) tại Khoa Luật (Trường Đại học Duy Tân). Qua đó góp phần thay đổi phương pháp thuyết giảng truyền thống sang phương pháp giảng dạy tương tác, lấy người học làm trọng tâm, phù hợp với nhu cầu đổi mới trong giảng dạy luật hiện nay.
Nghiên cứu đề xuất 05 mô hình cấu trúc ẩn dụ thức điển hình, trong đó các mệnh đề phủ định trực tiếp được chuyển sang các hình thức thức nghi vấn nhằm điều chỉnh nghĩa liên nhân phù hợp với quy ước lịch sự tiếng Việt. Kết quả góp phần ủng hộ khả năng ứng dụng lí thuyết Ngôn ngữ học chức năng hệ thống nói chung và lí thuyết về ẩn dụ ngữ pháp nói riêng ra ngoài phạm vi tiếng Anh, đồng thời có thể cung cấp nguồn tư liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu tiếng Việt.
Diễn ngôn Thương nhớ thời bao cấp là sản phẩm giao tiếp có sự kết hợp thú vị giữa kênh chữ và kênh hình nhằm tái hiện khung cảnh sinh hoạt, lao động của người Việt những năm trước Đổi mới. Tác phẩm không chỉ là dấu ấn của những thiếu thốn một thời mà còn là minh chứng cho cái nhìn điềm tĩnh, thái độ phản biện hài hước của nhân dân ta trước nhọc nhằn của đời sống. Vận dụng lí thuyết Ngữ pháp chức năng của M. Halliday để khảo cứu kênh chữ cùng lí thuyết Ngữ pháp hình ảnh của T. Leeuwen và G. Kress để khảo cứu kênh hình, bài viết đem đến những lí giải không chỉ về cách diễn ngôn tạo nghĩa, thiết lập giao tiếp với bạn đọc mà còn về cách người Việt ta đã sinh sống, tư duy và đối diện với những thiếu thốn một thời.
Nội dung nghiên cứu chủ yếu tập trung vào tiêu chí phân loại từ ghép, trật tự hình vị của từ ghép cũng như quan hệ nghĩa giữa hình vị và từ ghép. Bài viết này tổng kết thành quả nghiên cứu từ ghép tiếng Việt của học giả Trung Quốc và Việt Nam, nhằm xem xét từ ghép tiếng Việt một cách toàn diện hơn, và chỉ ra những hướng mới cho nghiên cứu từ ghép tiếng Việt trong tương lai.