Lí thuyết pha trộn ý niệm làm sáng tỏ sự hình thành ý nghĩa và tích hợp thông tin của Fauconnier và cộng sự là một bước phát triển mới của ngôn ngữ học tri nhận. Bài viết trình bày ngắn gọn nguyên nhân, mục đích hình thành thuyết pha trộn ý niệm, phân tích một số ví dụ điển hình để thấy được tính năng động trong hình thành ý nghĩa, tính vô biên của không gian tinh thần, mối quan hệ giữa ánh xạ ý niệm và hoạt động sản sinh ý nghĩa dưới góc nhìn của thuyết này.
Trên cơ sở sử dụng phương pháp hệ thống hoá, bài viết này hướng tới giới thiệu với bạn đọc về quá trình hình thành, phát triển chuyên sâu về mặt lí thuyết và phương pháp cũng như những thành tựu của Ngữ pháp kết cấu như một cách tiếp cận ngôn ngữ trong ba thập kỉ qua với sự cống hiến của những nhà ngôn ngữ như Fillmore, Kay, Langacker, Lakoff, Goldberg, Croft…Nội dung của bài viết còn nhằm giới thiệu nhiều chủ đề trọng tâm hiện đang được giải quyết trong Ngữ pháp kết cấu và bàn về cách lĩnh vực này hiện đang mở rộng và tạo mối liên hệ với các lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ khác.
Tỉnh lược là một hình thức của phép thế, thế bằng zêrô. Trong phép tỉnh lược và phép thế, cái được chú ý là yếu tố bị tỉnh lược và thay thế. Những yếu tố này có thể là: danh từ (cụm danh từ), động từ, tính từ (cụm động từ/ cụm tính từ), mệnh đề (cấu trúc chủ - vị, hay cú). Trong các diễn ngôn của cuốn Hồ Chí Minh “Về vấn đề giáo dục”, có thể nhận thấy, phép tỉnh lược và phép thế thường được sử dụng để liên kết câu. Các yếu tố bị tỉnh lược hoặc thay thế đều giữ chức vụ ngữ pháp trong câu. Chúng có thể là chủ ngữ, vị ngữ hoặc trạng ngữ, bổ ngữ, định ngữ. Bên cạnh tác dụng liên kết, việc sử dụng phép tỉnh lược và phép thế còn là một dụng ý nghệ thuật của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhờ phép tỉnh lược và phép thế mà các diễn ngôn của Người trở nên ngắn gọn, cô đúc, không rườm rà, tránh được lỗi lặp từ ngữ.
Nghiên cứu về vai trò của các yếu tố hư từ trong các biểu thức danh hoá thuộc ẩn dụ ngữ pháp của loại hình ngôn ngữ đơn lập cụ thể qua trường hợp của tiếng Việt - ngôn ngữ không biến đổi hình thái, với nguồn ngữ liệu nghiên cứu là truyện đồng thoại thiếu nhi Việt Nam qua hai tác giả tiêu biểu là Tô Hoài và Võ Quảng.
Tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc trong ngữ nghĩa thành ngữ tiếng Việt có thành tố chỉ mặt, so sánh với tiếng Anh và tiếng Nga. Bài viết phân tích các nhóm ngữ nghĩa trong thành ngữ Việt có thành tố chỉ mặt và tìm các điểm tương đồng và khác biệt. Bài viết cho thấy sự tương đồng mang tính phổ quát về đặc trưng văn hóa dân tộc trong ngữ nghĩa của thành tố chỉ mặt trong thành ngữ của ba ngôn ngữ Việt-Anh-Nga, nhưng cũng có những khác biệt về ngữ nghĩa có nguyên nhân dị biệt về văn hóa dân tộc.
Bài nghiên cứu này tập trung khảo sát mức độ hiệu quả của việc áp dụng Podcast trong việc cải thiện từ vựng tiếng Anh của người học cũng như quan điểm của họ về vấn đề này. Hai bài kiểm tra trước và sau nghiên cứu cũng như một bảng hỏi khảo sát được phát cho sinh viên tham gia nghiên cứu. Kết quả chính của nghiên cứu cho thấy rằng Podcast mang lại lợi ích trong việc nâng cao vốn từ vựng và người học có thái độ tích cực với phương pháp này.
Việc phân tích các lỗi khi sử dụng lượng từ tiếng Trung Quốc có liên quan chặt chẽ và đóng một vai trò quan trọng trong việc dạy và học tiếng Trung Quốc. Bài viết này lấy ngữ liệu từ bài tập của sinh viên năm nhất ngành Ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc của Trường Đại học Đại Nam để phân tích các lỗi sai khi sử dụng lượng từ tiếng Trung Quốc, phân tích nguyên nhân của vấn đề, từ đó đưa ra giải pháp trong giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Trung Quốc trong nhà trường.
Bài viết khảo sát, phân tích các đoạn đối thoại nhân vật qua một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945, để chỉ ra các lẽ thường tiêu biểu, hình thành từ các mối quan hệ xã hội: quan hệ trong gia đình (lẽ thường đạo đức), quan hệ giữa các tầng lớp (thống trị/ bị trị) (lẽ thường quyền uy), v.v. Đó là một phần biểu hiện của tư duy văn hóa người Việt.
Trên nền tảng lí thuyết dụng học, bài viết đã phân tích rõ những tương đồng và khác biệt của động từ nói năng và động từ chỉ cách thức nói năng. Ngoài kết quả về mặt ngôn ngữ học, nghiên cứu cũng góp phần khẳng định: hệ thống các động từ nói năng và động từ chỉ cách thức nói năng trong tiếng Việt phần nào “nói lên” văn hóa nói của người Việt - một văn hóa nói thực sự vô cùng phong phú và giàu sắc thái cảm xúc.
Nghiên cứu này ứng dụng lí thuyết đánh giá để nhận diện và phân tích đánh giá Thái độ (bao gồm Cảm xúc, Phán xét và Thẩm giá) của các tác giả trong các bài bình luận trên báo Nhân dân về vấn đề chăm sóc đời sống nhân dân lao động ở thời điểm dịch bệnh Covid-19 hoành hành. Kết quả nghiên cứu ghi nhận được sự xuất hiện của tất cả các loại giá giá trị Cảm xúc, Phán xét và Thẩm giá ở cả hai góc độ tích cực và tiêu cực. Chủ thể đánh giá ở các loại giá trị cũng đa dạng, bao gồm: tác giả và phi tác giả.