Nghiên cứu và đề xuất phương pháp khai thác đối với tập dữ liệu thưa thông qua một số cách thức tổ chức dữ liệu và kỹ thuật cắt tỉa. Kết quả đánh giá thực nghiệm đã chứng tỏ được tính khả thi của giải pháp được đề xuất.
Uti possidetis là một trong các nguyên tắc của luật quốc tế về hoạch định biên giới quốc gia. Bài viết tập trung phân tích định nghĩa, lịch sử hình thành, phân loại, bản chất, giá trị pháp lý và các vấn đề liên quan đến nguyên tắc uti possidetis trong luật pháp quốc tế hiện đại. Bài viết nghiên cứu nguyên tắc này thông qua các vụ tranh chấp biên giới, lãnh thổ của các nước trên thế giới được xét xử tại Tòa án Công lý quốc tế (International Court of Justice – ICJ). Trên cơ sở đó, nhóm tác giả rút ra kinh nghiệm và đưa ra một số kiến nghị cho Việt Nam nhằm giải quyết tranh chấp ở biển Đông và phân định biên giới với các quốc gia láng giềng.
Bài viết làm rõ cơ sở cho sự phát triển hợp tác quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ trong thế kỷ XXI cũng như những thành tựu mà hai quốc gia đã đạt được trong lĩnh vực này. Trên cơ sở vận dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp phân tích lợi ích, tác giả chỉ ra rằng, hiện trạng tốt đẹp của quan hệ Việt - Ấn, nhu cần cần có nhau của hai quốc gia trước những thách thức, đe dọa chung về an ninh và văn hóa quân sự mang tính chất hòa bình, nhân văn của cả Việt Nam và Ấn Độ là cơ sở quan trọng cho sự phát triển của hợp tác quốc phòng Việt - Ấn. Ở chiều ngược lại, các hoạt động hợp tác quốc phòng giữa hai bên càng củng cố hình ảnh, vị thế của mỗi quốc gia cũng như góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng trong các lĩnh vực khác của mối quan hệ song phương.
Bài viết phân tích về một số bước cơ bản và cần thiết mang tính tiên quyết trong việc thực hiện một công trình so sánh luật: tiếp cận và phân tích pháp luật nước ngoài trong hoạt động so sánh luật. Trong đó, việc nghiên cứu pháp luật nước ngoài được làm rõ, bao gồm các bước tiếp cận, đánh giá và sử dụng pháp luật nước ngoài. Tác giả đã phân tích các yêu cầu và quy trình đối với các bước tiếp cận nhằm mang lại hiệu quả cho phương pháp so sánh luật. Đồng thời, bài viết đã đúc kết một số thực tiễn liên quan để minh họa cho việc ứng dụng kiến thức của luật so sánh trong việc tiếp cận pháp luật nước ngoài nhằm chứng minh sự tương tác của hai lĩnh vực khoa học pháp lý là nghiên cứu pháp luật nước ngoài và luật so sánh.
Trong lãnh vực viễn thông, việc thuê bao rời bỏ nhà mạng là sự cố rất đáng quan tâm vì vấn đề này có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty. Tuy nhiên, đặc điểm dữ liệu mất cân bằng trong bài toán dự đoán thuê bao rời bỏ nhà mạng gây khó khăn cho việc phát triển một mô hình phân lớp hiệu quả để giải quyết bài toán này. Trong nghiên cứu này thử áp dụng giải thuật rừng ngẫu nhiên có điều chỉnh hàm chi phí (cost-sensitive weighted random forest - CSWRF), vốn đã thành công trong bài toán phát hiện gian lận thẻ tín dụng (credit card fraud detection), để giải quyết vấn đề dữ liệu mất cân bằng trong bài toán dự đoán thuê bao rời bỏ nhà mạng. Ngoài ra, chúng tôi so sánh hiệu quả của giải thuật CSWRF với cách tiếp cận lấy mẫu dữ liệu: kết hợp giải thuật Rừng Ngẫu Nhiên với kỹ thuật lấy mẫu tăng SMOTE. Kết quả thực nghiệm trên hai bộ dữ liệu mẫu cho thấy đối với bài toán dự đoán thuê bao rời bỏ nhà mạng, vốn là bài toán mất cân bằng dữ liệu, hiệu quả phân lớp của giải thuật CSWRF thuộc cách tiếp cận điều chỉnh hàm chi phí (cost-sensitive learning) tốt hơn phương pháp SMOTE kết hợp giải thuật Rừng Ngẫu Nhiên.
Đề xuất mô hình sử dụng kỹ thuật khai thác dữ liệu áp dụng vào việc dự đoán xu hướng cổ phiếu. Mô hình dự đoán dựa vào thuật toán khai thác mẫu con tuần tự trên tập dữ liệu lịch sử cổ phiếu. Bên cạnh đó, kỹ thuật xác định mẫu con thông qua độ tương tự cũng được trình bày trong bài báo. Dữ liệu thực nghiệm được thu thập trên trang https://finance.yahoo.com. Kết quả thực nghiệm của mô hình được đề xuất có độ chính xác trung bình tốt hơn so với mô hình truyền thống như SVM và LSTM.
Bài viết cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố nội tại và các yếu tố vĩ mô tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Dữ liệu thu thập được từ 27 ngân hàng từ 2009 - 2022, với 364 quan sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các biến nội tại như: Vốn huy động/Vốn vay (LDR), Chi phí hoạt động/Tổng tài sản (OC) và Thu nhập ngoài lãi/Tổng thu nhập (NOIR) tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời của cả 3 mô hình (Mức sinh lời trên tổng tài sản (ROA), mức sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) và thu nhập lãi cận biên- NIM), biến SIZE, biến Dự phòng rủi ro tín dụng/Tổng tài sản (LIQ) tác động cùng chiều đến ROA, ROE nhưng ngược với NIM... Kết quả này giúp cho nhà quản trị ngân hàng xem xét đưa ra các chiến lược phù hợp với các yếu tố nhằm ổn định hoạt động kinh doanh của ngân hàng và gia tăng khả sinh lời.
Bài viết nghiên cứu tác động của sự gắn kết đến hiệu suất làm việc và lòng trung thành của nhân viên tại các ngân hàng thương mại Việt Nam bằng phương pháp thu thập 344 quan sát là cá nhân đang làm việc tại các ngân hàng thương mại. Kết quả phân tích cho thấy mối quan hệ tác động tích cực của sự gắn kết với hiệu suất làm việc và lòng trung thành nhân viên, qua đó, đội ngũ lãnh đạo các ngân hàng thương mại có thể đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao sự gắn kết, hiệu suất làm việc và lòng trung thành của nhân viên.
Việc đổi mới hệ thống tổ chức, quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập là một trong những nhiệm vụ cấp bách trong định hướng phát triển hiện nay của Việt Nam. Theo đó, vấn đề chuyển các đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần là một trong những mục tiêu quan trọng được đặt ra trong quá trình đổi mới tổ chức quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập. Bài viết này đánh giá thực trạng chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần trong thời gian qua và đưa ra các kiến nghị nhằm góp phần thực hiện có hiệu quả việc chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần trong những năm tới.
Những năm gần đây, sự bùng nổ của các công ty khởi nghiệp và sự lan tỏa mạnh mẽ của các ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) đã và đang đặt các doanh nghiệp Việt Nam trước những cơ hội và thách thức mới. Ở Việt Nam, “Khởi nghiệp – Sáng tạo” vẫn được coi là sân chơi riêng của các doanh nghiệp tư nhân. Khu vực doanh nghiệp nhà nước hiện chưa được phép tham gia đầu tư vào các công ty khởi nghiệp hay các quỹ Đầu tư mạo hiểm do tính chất rủi ro cao. Bài viết này tổng kết kinh nghiệm về đầu tư của doanh nghiệp nhà nước vào các công ty khởi nghiệp tại một số quốc gia có trình độ phát triển tương đương, từ đó rút ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam và đề xuất cơ chế thí điểm trong giai đoạn tới.