Inbound marketing đã trở thành xu hướng tiếp thị hiện đại và hiệu quả cho ngân hàng. Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt và thay đổi hành vi tiêu dùng khiến quảng cáo truyền thống chưa thể đáp ứng được yêu cầu thì Inbound marketing lại đang thể hiện được thế mạnh khi tập trung vào cung cấp thông tin giá trị và giải pháp tài chính phủ hợp với nhu cầu khách hàng. Inbound marketing giúp các ngân hàng xây dựng hình ảnh đáng tin cậy và chuyên nghiệp, thu hút sự quan tâm và tạo niềm tin với khách hàng, đồng thời xây dựng niềm tin, tạo trải nghiệm tích cực và giá trị cho khách hàng. Bài viết giới thiệu tổng quan về Inbound marketing, một số khó khăn khi ứng dụng hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động từ phương thức này.
Xu hướng sử dụng các chỉ số về sở hữu trí tuệ (SHTT) trong đánh giá hiệu quả hoạt động của các của các viện nghiên cứu, trường đại học (VNC, TĐH) đã cho thấy nhu cầu thực tiễn của các tổ chức này nhằm mục đích quản lý, phân bổ nguồn lực cũng như cải tiến hiệu quả quản trị tổ chức. Bài viết trình bày những vấn đề cơ bản về đánh giá hiệu quả hoạt động của các VNC, TĐH bằng các chỉ số về SHTT, thực tiễn áp dụng và đề xuất cho Việt Nam.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng nhằm nghiên cứu tác động của các thành phần của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Với việc ước lượng các mô hình với dữ liệu 32 ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2012-2022 bằng phương pháp SGMM, trên cơ sở kết quả nghiên cứu về các biến tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại, tác giả đề xuất các hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại.
Cùng với những giải pháp về phát triển năng lượng tái tạo, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, phát triển nguồn điện có phát thải carbon thấp…, hydro và những dẫn xuất của hydro có vị trí ngày càng quan trọng trong lộ trình chuyển dịch năng lượng. Với Việt Nam, bài viết chỉ ra những khó khăn, thách thức phát triển nguồn năng lượng hydro và cần có giải pháp liên quan đến hoạt động khoa học và công nghệ2 (KH&CN) để đạt được mục tiêu đề ra.
Bài viết hướng đến đề xuất công nhận tính pháp lý của Huy động vốn cộng đồng theo hình thức cổ phần (ECF - Equity-based crowdfunding) tại Việt Nam thông qua việc phân tích, đánh giá các vấn đề về: Bản chất, cách thức vận hành, vai trò của hoạt động ECF; Cách tiếp cận trong việc điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động này cũng như thực tiễn tại một số nước đã công nhận ECF; Bối cảnh huy động vốn của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (DNKNST) và những thách thức trong việc thực hiện hoạt động này tại Việt Nam.
Xây dựng quy trình và tiến hành chẩn đoán trước chuyển phôi đột biến gen OCA2 gây OCA2 cho các phôi của một gia đình mang gen bệnh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mẫu máu của 4 thành viên thuộc một gia đình có thành viên mắc OCA gồm bố, mẹ và 2 người con gái; 6 mẫu sinh thiết phôi ngày 5 của cặp vợ chồng này. Các thành viên trong gia đình tham gia nghiên cứu được giải trình tự gen thế hệ mới (NGS) khảo sát đột biến nhóm gen gây OCA. Dựa trên kết quả xác định đột biến bằng giải trình tự NGS để thiết kế mồi cho phản ứng PCR khuếch đại đoạn trình tự chứa đột biến. Sau đó kết hợp phương pháp giải trình tự Sanger, phân tích di truyền liên kết để phát hiện đột biến gây bệnh trên các mẫu sinh thiết phôi sau nhân bản toàn bộ hệ gen (WGA).
Xác định tỷ lệ sản phụ mang liên cầu nhóm B (GBS) và kết quả thai kỳ của những sản phụ này tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 537 sản phụ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021 có kết quả xét nghiệm nuôi cấy phân lập định danh tìm GBS bằng mẫu dịch âm đạo - trực tràng ở thời điểm 36-37 tuần 6 ngày.
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu (NKĐTN) là một trong những bệnh lý nhiễm trùng thường gặp, có thể tái diễn nhiều lần nếu không được chẩn đoán sớm và điều trị hiệu quả. Các vi khuẩn (VK) gram âm là những tác nhân thường gặp nhất. Trong nghiên cứu này, tác giả xác định các VK gram âm gây bệnh và mức độ kháng kháng sinh của chúng với mục đích giúp cho việc điều trị có hiệu quả, giảm chi phí điều trị, hạn chế sự gia tăng VK đề kháng kháng sinh.
Biến dạng mũi ở bệnh nhân khe hở môi một bên có nhiều dạng lâm sàng khác nhau, làm mất cân xứng trầm trọng 2 bên mũi. Việc điều trị tạo hình biến dạng mũi trên những trường hợp này rất phức tạp và là thách thức cho các phẫu thuật viên. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát đặc điểm các biến dạng mũi ở bệnh nhân khe hở môi một bên, từ đó giúp các phẫu thuật viên có sự chuẩn bị tốt hơn cho phẫu thuật. Phương pháp nghiên cứu là hồi cứu, mô tả hàng loạt ca được thực hiện trên 89 bệnh nhân khe hở môi một bên đã phẫu thuật môi nhưng còn biến dạng mũi đến khám và điều trị tại Khoa Tạo hình Thẩm mỹ, Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 12/2013 đến tháng 10/2022.
Nang tuyến vú thường gặp ở phụ nữ tiền mãn kinh (65,1%) so với phụ nữ mãn kinh (39,4%) với độ tuổi thường gặp nhất là từ 35 đến 50. Can thiệp điều trị nang tuyến vú có triệu chứng bằng vi sóng là một phương pháp điều trị đáng quan tâm với nhiều ưu điểm. Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả sớm của phương pháp điều trị nang lành tính tuyến vúbằng vi sóng dưới hướng dẫn của siêu âm. Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả loạt ca hồi cứu bệnh nhân nang tuyến vú có triệu chứng không đáp ứng điều trị nội khoa và chọc hút bằng kim nhỏ được can thiệp điều trị bằng vi sóng tại Đơn vị Tuyến vú, Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 8/2018 đến tháng 3/2020.