Thực trạng phân tích thông tin chi phí sản xuất kinh doanh phục vụ yêu cầu quản trị tại các công ty sản xuất thép trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và hoàn thiện phân tích thông tin chi phí sản xuất kinh doanh phục vụ yêu cầu quản trị tại các công ty sản xuất thép trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Nghiên cứu đánh giá thực trạng kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, tại Cục thuế tỉnh Thanh Hóa. Từ đó, tác giả đề xuất những giải pháp hoàn thiện kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các đơn vị này nhằm kiểm soát chống thát thu thuế TNDN.
Trong thời kỳ kỷ nguyên số, rất nhiều thách thức được đặt ra đòi hỏi cá nhân và tổ chức phải liên tục đổi mới và học tập, điều này phụ thuộc vào con người và năng lực của doanh nghiệp. Các phương pháp quản trị hiệu quả nguồn nhẫn lực đóng một vai trò quan trọng trong phát triển năng lực người lao động đáp ứng với sự thay đổi của xã hội. Bài viết này nhằm mục đích đưa ra các quan điểm trong việc nâng cao hiệu quả nguồn nhân lực trong bối cảnh thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng trên mọi lĩnh vực.
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm xác định đột biến trên gen G6PD ở bệnh nhân người dân tộc Nùng được chẩn đoán thiếu hụt enzyme G6PD. 18 bệnh nhi dân tộc Nùng được chẩn đoán thiếu enzyme G6PD tại Bệnh viện Nhi Trung ương, được ứng dụng kỹ thuật PCR và giải trình tự gen để phát hiện đột biến trên gen G6PD.
Colistin là kháng sinh ưu tiên quan trọng được sử dụng cho các trường hợp nhiễm khuẩn gram âm đường ruột kháng carbapenem. Các chủng E. coli mang gen kháng colistin (mcr-1) được ghi nhận trên toàn thế giới ở cả người, động vật và môi trường với các cơ chế kháng rất đa dạng từ kháng nội tại, đột biến và vận chuyển gen [1]. Xác định các đặc điểm dịch tễ học về tình trạng lây lan giữa các chủng có chứa mcr-1 là vấn đề rất cần thiết.
Mô tả đặc điểm lâm sàng và hình ảnh nội soi phế quản của bệnh nhân u máu hạ thanh môn (UMHTM). Nghiên cứu 25 bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị UMHTM tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ 1/6/2018 đến 30/5/2023. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang hồi cứu và tiến cứu.
Trong kỷ nguyên về công nghệ 4.0, trí tuệ nhân tạo (artificial intelligence - AI) là chủ đề đang được chú ý thảo luận. AI đang hứa hẹn mang đến cho con người nhiều lợi ích khác nhau trong sinh hoạt và công việc. Nhận thức được tầm quan trọng đó, ngày 26/01/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 127/QĐ-TTg ban hành Chiến lược quốc gia về Nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, nhấn mạnh nhiệm vụ“xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật tạo hành lang pháp lý thống thoảng đáp ứng yêu cầu thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI vào cuộc sống”. Bài viết này nghiên cứu một số vấn đề pháp lý về bồi thường thiệt hại phát sinh từ việc ứng dụng AI trong trường hợp AI có những thiếu sót như “một con người” và gây thiệt hại. Bài viết này nghiên cứu hệ thống pháp luật của một trong những khu vực kinh tế hàng đầu thế giới là Liên minh châu Âu, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Xã hội ngày càng phát triển, nhiều máy móc, thiết bị kỹ thuật cao, nhiều sản phẩm như robot, thiết bị công nghệ cao đã được chế tạo ra từ trí tuệ nhân tạo (artificial intelligence - AI). AI có thể được tích hợp khả năng xử lý “thông minh”, vận hành chính xác, nhưng cũng không thể tránh khỏi những kiếm khuyết về kỹ thuật - công nghệ, và không thể loại trù được hết nguy cơ gây thiệt hại cho người khác và xã hội vì AI là sản phẩm do con người tạo ra, điều khiển. Vấn đề đặt ra là, khi AI gây thiệt hại, thì ai phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý. Dựa vào lý luận về năng lực chủ thể và trách nhiệm pháp lý, bài viết phân tích những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, có so sánh với pháp luật của châu Âu về xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, từ đó rút ra được những kinh nghiệm hữu ích áp dụng cho Việt Nam về chủ thể bồi thường thiệt hại do AI gây ra.
Bài báo có mục tiêu xây dựng chỉ tiêu đo lường mức độ phát triển tài chính tổng hợp từ các chỉ tiêu riêng lẻ phản ánh các khía cạnh lượng và chất dựa trên phương pháp phân tích thành phần chính (Principal Component Analysis – PCA) do Quỹ Tiền tệ Quốc tế phát triển năm 2016. Dựa trên chỉ tiêu này, nhóm tác giả áp dụng để phân tích và đánh giá mức độ phát triển tài chính của 45 quốc gia Châu Á trong giai đoạn 1980 - 2020. Các phát hiện chính là: (i) Các quốc gia có thu nhập cao hơn có hệ thống tài chính phát triển tốt hơn; (ii) Việc mở rộng quy mô của hệ thống tài chính (mặt lượng) và tăng cường tính thanh khoản, tính hiệu quả và tính đa dạng của hệ thống tài chính (mặt chất) đều có tác động tích cực tới phát triển tài chính, tuy nhiên, sự thay đổi về mặt lượng có tác động lớn hơn; (iii) Chỉ tiêu phát triển tài chính tổng hợp có tương quan thuận chiều với một số chỉ tiêu riêng lẻ đo lường phát triển tài chính truyền thống như tín dụng tư nhân trên GDP, vốn hóa thị trường chứng khoán trên GDP.