Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, yêu cầu bảo tồn và phát các giá trị văn hóa truyền thống là vấn đề cấp thiết đối với bất kỳ dân tộc hay quốc gia nào trên thế giớiMột trong những biện pháp đang được các quốc gia phát triển trên thế giới chú trọng là hoạt động giáo dục hóa truyền thống cho giới trẻ, hay nói cách khác là những hoạt động để các giá trị nguồn cội chạm được giới trẻ. Nội dung bài viết đề cập việc tăng cường giáo dục về văn hóa truyền thống trong giáo dục học đường ở Nhật Bản từ sau khi Luật Giáo dục cơ bản được sửa đổi năm 2006 đến nay.
Sau khi trở thành nhà lãnh đạo cao nhất của vùng lãnh thổ Đài Loan (sau đây gọi tắt là Đài Loan), bà Thái Anh Văn và chính quyền của mình đã đưa ra chính sách hướng Nam mới, tập trung vào việc mở rộng phạm và lĩnh vực hướng Nam, làm sâu sắc thêm quan hệ với các nước Đông Nam Á và Nam Á, trong đó có Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ những kết quả đạt được, bài viết chỉ ra những hạn chế và vấn đề đặt ra trong hợp tác phát triển Việt Nam - Đài Loan kể từ năm 2016 đến nay, từ đó đưa ra dự báo triển vọng cho hợp tác Việt.
Việt Nam và Đài Loan là hai nền kinh tế năng động, đang vươn lên mạnh mẽ ở khu vực châu Á. Có thể thấy, nền kinh tế hai bên có nhiều đặc điểm tương đồng, mỗi nền kinh tế đều sở hữu những thế mạnh riêng chính vì vậy cả hai hoàn toàn có thể hợp tác để học hỏi, bổ trợ lẫn nhau để cùng phát triển. Bài viết tập trung một số nội dung như: Bối cảnh thiết lập quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan; Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan trên một số lĩnh vực tiềm năng; Bối cảnh mới tác động tới quan hệ hợp tác kinh Việt Nam - Đài Loan; Triển vọng và khuyến nghị.
Ngày 21/9/1973, Việt Nam và Nhật Bản chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ, khởi đầu cho một kỷ nguyên hợp tác phát triển có lợi cho cả 2 bên về nhiều mặt. Nhằm thúc đẩy và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hợp tác toàn diện, tháng 4-2009, hai nước chính thức nâng quan hệ lên tầm “Đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á”. Quan hệ hai nước bước sang giai đoạn phát triển mới toàn diện và tốt đẹp chưa từng có trên tất cả các lĩnh vực, như chính trị - ngoại giao, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh, giao lưu cấp địa phương, giao lưu nhân dân. Trải qua 50 năm, quan hệ ngoại giao hai nước ngày càng bền chặt và đạt nhiều thành tựu mới, nhất là trong lĩnh vực giao lưu văn hóa.
Nhật Bản và Đài Loan là hai nền kinh tế phát triển năng động ở khu vực Đông Á. Hai bên có sự gần lý, sự gắn kết về lịch sử, văn hóa mạnh mẽ và cùng đối mặt với thách thức chung trước những hành đoán của Trung Quốc ở biển Đài Loan và biển Hoa Đông. Bài viết khái quát lịch sử quan hệ Nhật qua các thời kỳ và thảo luận xu hướng tương lai của cặp quan hệ này.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định “thực hành dân chủ và tặng cường pháp chế, bảo đảm kỉ cương xã hội” là mối quan hệ lớn cần phải được nhận thức thống nhất và triển khai có hiệu quả trên thực tiễn, góp phần bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân trọng điều kiện hiện nay. Đặc biệt, trong bối cảnh tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền, đề cao vai trò, giá trị của pháp luật trong điều chỉnh các quan hệ xã hội, việc nắm vững và hoàn thiện cơ sở pháp li để giải quyết mối quan hệ nếu trên càng có ý nghĩa quan trọng. Bài viết nghiên cứu một số vấn đề li luận về mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỉ cương xã hội; phân tích và đánh giá các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến mối quan hệ này; từ đó đề xuất giải pháp giải quyết hiệu quả mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỉ cương xã hội ở Việt Nam hiện nay.
Kể từ năm 2015 đến nay, quan hệ giữa Việt Nam và Mông Cổ đã có những bước phát triển mạnh mẽ so các giai đoạn trước, thể hiện trên nhiều lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế, văn hóa, an ninh quốc phòng... Tuy nhiên, bên cạnh sự ổn định, vẫn còn nhiều hạn chế cản trở sự phát triển quan hệ giữa hai nướcviết trình bày thực trạng của quan hệ Việt Nam - Mông Cổ trong lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh hóa, giáo dục, an ninh quốc phòng…, từ đó đưa ra những đánh giá và hàm ý cho Việt Nam.
Trách nhiệm hình sự của pháp nhân là một chế định tương đối mới của Việt Nam, do vậy vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật. Vì lí do này, việc nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia khác nhằm học hỏi và hoàn thiện quy định của Việt Nam là cần thiết. Bài viết phân tích các quy định trong luật hình sự Singapore về trách nhiệm hình sự của pháp nhân, chỉ ra những điểm giống và khác nhau của chế định này theo pháp luật Singapore và Việt Nam; đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự của pháp nhân.
Sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư kéo theo sự quan tâm của nhiều nhà nghiên và hoạch định chính sách đến tác động của công nghệ 4.0 tới hoạt động sản xuất kinh doanh của nghiệp. Tuy nhiên, nghiên cứu về tác động của công nghiệp 4.0 đến hiệu quả sử dụng năng lượng doanh nghiệp còn khan hiếm. Nghiên cứu này sẽ lấp đầy khoảng trống nghiên cứu trong việc phân động của việc áp dụng công nghệ 4.0 đến cường độ sử dụng năng lượng của doanh nghiệp Việt Namquả cho thấy việc áp dụng công nghệ 4.0 giúp doanh nghiệp giảm cường độ sử dụng năng lượng.
Lời khai của người làm chứng là một nguồn chứng cứ quan trọng để giải quyết vụ án hình sự. Quyền hỏi người làm chứng chống lại mình của bị cáo là một trong những quyên quan trọng của quyền được xét xử công bằng, đảm bảo sự bình đẳng, công bằng về quyền và nghĩa vụ của hai bên buộc tội và bào chữa trong phiên toà hình sự. Nguyên tắc loại trừ chứng cứ tin đồn và thẩm vấn chéo là những chế định pháp lí đảm bảo tính chính xác và xác thực của lời khai được sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ án hình sự. Bài viết phân tích ba chế định pháp lí: 1) quyền hỏi người làm chứng chống lại mình của bị cáo; 2) nguyên tắc loại trừ chứng cứ tin đồn; 3) thẩm vấn chéo trong pháp luật quốc tế, nước ngoài và Việt Nam; trên cơ sở đó đưa ra kiến nghị áp dụng, hoàn thiện quy định về kiểm tra, đánh giá và sử dụng lời khai tại phiên toà hình sự ở Việt Nam nhằm đáp ứng quá trình cải cách tư pháp, với mục tiêu nâng cao chất lượng giải quyết vụ án hình sự, chống oan sai, bỏ lọt tội phạm và bảo đảm các quyền cơ bản của con người.