Nêu lên lợi ích của việc tái sử dụng nước thải, bài học kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới và đề xuất giải pháp để tăng cường tái chế, tái sử dụng nước thải trên toàn cầu trong thời gian tới.
Phân tích bối cảnh ra đời và nội dung của một số chính sách liên quan đến “tẩy xanh” của Liên minh châu Âu và đề xuất một số chính sách đối với Việt Nam.
Trên cơ sở phân tích thực trạng cũng như kinh nghiệm phát triển du lịch có trách nhiệm của một số quốc gia trên thế giới, một số bài học thiết thực đã được đưa ra nhằm thúc đẩy sự phát triển du lịch có trách nhiệm ở Việt Nam.
Vào năm 2005, Trung Quốc ký kết Công ước Liên hợp quốc về quyền miễn trừ tài phán và quyền miễn trừ tài sản của quốc gia năm 2004. Đây được xem là một dấu hiệu cho sự thay đổi về lập trường của Trung Quốc từ việc ủng hộ học thuyết quyền miễn trừ tuyệt đối (absolute immunity) sang học thuyết quyền miễn trừ hạn chế hay miễn trừ tương đối (restrictive immunity hay relative immunity). Bài viết nghiên cứu những quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Trung Quốc về quyền miễn trừ của quốc gia khi tham gia vào các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, nhằm lý giải nguyên nhân của sự thay đổi quan điểm trong pháp luật Trung Quốc. Từ đó, bài viết đưa ra một số gợi ý hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này.
Quản lý rủi ro môi trường trong hoạt động cấp tín dụng là nội dung mới được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường, là nhân tố trung tâm bảo đảm triển khai tín dụng xanh. Điều này được lý giải ở chỗ, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam đối với dự án đầu tư phảo phù hợp với quy định về quản lý rủi ro môi trường trong hoạt động cho vay.
Nghị quyết số 27-NQ/TW Hội nghị Trung ương lần thứ Sáu Khoả XIII là một bước thể hoá mục cụ quan trọng tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã nhấn mạnh về tiêu tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó tiếp tục đề cập nội dung “hoàn thiện cơ chế bảo vệ hiến pháp”. Tuy nhiên, vấn đề xây dựng cơ chế bảo vệ hiến pháp ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều ở cả khía cạnh lí luận và thực tiễn. Bài viết luận giải sự cần thiết của việc xây dựng cơ chế bảo vệ hiến pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đề xuất việc xây dựng cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng toà án, đồng thời luận giải sự tương thích và phù hợp của mô hình này với các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hoạt động quy hoạch không chỉ quyết định việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của người dân. Vì vậy, hoàn thiện cơ chế đảm bảo quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân trong hoạt động quy hoạch là việc làm cần thiết, góp phần tiếp tục phát huy bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, giúp nâng cao chất lượng quy hoạch, tăng cường đồng thuận xã hội và phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động quy hoạch. Bài viết phân tích thực trạng cơ chế bảo đảm quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân trong hoạt động quy hoạch; từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và các biện pháp đảm bảo quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân trong hoạt động quy hoạch ở Việt Nam.
Quốc triều hình luật thời Lê là một trong những di sản văn hoá pháp lí tiêu biểu của Việt Nam. Trong lĩnh vực lập pháp, có thể tìm thấy ở Bộ luật này nhiều điểm tiến bộ và giá trị cần kế thừa. Bài viết tập trung phân tích, làm rõ những sáng tạo về kĩ thuật và nội dung lập pháp của Quốc triều hình luật thời Lê so với những Bộ luật trước và với pháp luật của nhà nước phong kiến Trung Hoa. Từ những giá trị này, bài viết đưa ra một số bài học kinh nghiệm tiếp tục kế thừa những giá trị của Bộ luật này đối với hoạt động lập pháp ở Việt Nam hiện nay, cả về kĩ thuật và nội dung lập pháp.
Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ cũng như quá trình tăng trưởng kinh tế - xã hội đã làm gia tăng các của cải vật chất và các giá trị tinh thần cho loài người, làm xuất hiện thêm nhiều loại tài sản mới, trong đó có tài sản trí tuệ - là tài sản kết tinh từ quá trình sáng tạo trí tuệ của con người. Quyền sở hữu trí tuệ cũng như lợi ích phát sinh từ quyền này thường không dễ xác định như đối với những tài sản hữu hình thông thường của cá nhân. Do đó, khi chủ sở hữu tài sản trí tuệ qua đời, việc xác định di sản thừa kế là quyền sở hữu trí tuệ là vấn đề phức tạp. Bài viết phân tích và làm rõ một số vấn đề pháp lí và thực tiễn liên quan đến xác định di sản thừa kể là quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật Việt Nam.
Hợp đồng bị vô hiệu do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó hợp đồng được xác lập do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, bị đe dọa, cưỡng ép tương đối phổ biến. Tuy nhiên, với những trường hợp này, toà án chỉ có quyền tuyên vô hiệu nếu các hành vi đó xảy ra trong việc xác lập hợp đồng và có yêu cầu của đương sự. Trên cơ sở phân tích, làm rõ các thuật ngữ liên quan đến sự tự nguyện khi tham gia hợp đồng như: sự tự nguyện; tự nguyện trong tham gia hợp đồng; chủ thể tham gia hợp đồng, bài viết xem xét về các trường hợp bị coi là không có sự tự nguyện của chủ thể tham gia hợp đồng, qua đó xác định bản chất của các yếu tố làm mất đi tính tự nguyện của chủ thể tham gia hợp đồng, lấy ví dụ tương ứng để minh họa cho các trường hợp cụ thể; phân tích chỉ ra một số bất cập trong quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về hợp đồng, giao dịch vô hiệu và đưa ra kiến nghị hoàn =thiện các quy định này.