Nghiên cứu này nhằm mục tiêu xác định và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hằng về chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử. Nghiên cứu sử dụng kinh tế lượng để phân tích tập dữ liệu thu thập trực tiếp từ 700 khách hàng đang sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử. Kết quả cho thấy có sáu nhân tố gồm: Sự tin cậy, Sự đồng cảm, Sự đáp ứng, Phương tiện hữu hình, Khả năng tiếp cận, Năng lực phục vụ có ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử.
Bảo hiểm nhân thọ từ lâu được biết đến là sản phẩm bảo vệ con người trước những rủi ro của cuộc sống. Trên thế giới, ngành Bảo hiểm nhân thọ phát triển mạnh mẽ và được người dân tham gia nhiều, song ở Việt Nam thì tỷ lệ này khá khiêm tốn. Tính đến hết năm 2022, Việt Nam mới chỉ có 11% dân số tham gia trong khi đó, tại Philippines khoảng 38%, Malaysia khoảng 50%, Singapore khoảng 80%, Mỹ khoảng 90%. Do đó, nghiên cứu này tập trung vào các nội dung chính: Khái niệm và đặc điểm, lịch sử phát triển ngành Bảo hiểm nhân thọ; Thực trạng phát triển của thị trường bảo hiểm nhân thọ giai đoạn 2018-2022 và giải pháp phát triển thị trường này trong thời gian tới.
Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ được ban hành năm 2017 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) là cơ sở pháp lý quan trọng trong công tác quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, góp phần quản lý nhà nước về an ninh trật tự, phục vụ hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Sau 05 năm triển khai thực hiện Luật này đã phát sinh một số khó khăn, bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu thực tế trong quản lý nhà nước và phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm trong tình hình mới. Bài viết tập trung đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân, qua đó đề xuất nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công vụ hỗ trợ.
Bài viết trao đổi các vấn đề chung về áp dụng kế toán trách nhiệm trong các cơ sở giáo dục đại học công, kinh nghiệm quốc tế và một số hàm ý cho Việt Nam.
Bài viết này tập trung trình bày những kỹ năng quan trọng để viết một bài báo có khả năng cao được chấp nhận công bố bởi các tạp chí quốc tế uy tín thuộc danh mục ISI, Scopus trong lĩnh vực khoa học pháp lý. Kết quả nghiên cứu của bài viết là tổng hợp những kinh nghiệm của tác giả trong quá trình viết và công bố ba bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế bao gồm: Youth Justice (SSCI), Asian-Pacific Journal on Human Rights and the Law (Scopus Q4) và Criminal Lau Forum (Scopus Q2), kết hợp với quá trình làm người thẩm định cho hai trong số ba tạp chí quốc tế kể trên, cũng như việc tham khảo các tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến công bố quốc tế.
Trong bối cảnh dịch chuyển lao động mạnh mẽ như hiện nay, cho thuê lại lao động là một trong những xu hướng phổ biến, giúp doanh nghiệp thuê lại lao động đáp ứng nhu cầu bổ sung nhân sự nhanh chóng. Pháp luật hầu hết các quốc gia trên thế giới cũng như pháp luật lao động Việt Nam đều xác định quan hệ cho thuê lại là một loại quan hệ đặc biệt trong quan hệ lao động, cần nhiều ràng buộc, điều kiện pháp lý chặt chẽ hơn để ổn định, hài hòa lợi ích của Nhà nước, người lao động, người cho thuê lại và người thuê lại lao động. Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ trình bày một số quy định pháp luật của Tổ chức Lao động Quốc tế, pháp luật một số quốc gia trên thế giới về điều kiện hoạt động cho thuê lại lao động và kinh nghiệm cho Việt Nam, từ đó đề xuất một số phương hướng trong việc hoàn thiện khung pháp lý, thể chế liên quan đến điều kiện cho thuê lại lao động tại Việt Nam.
Nghiên cứu này xem xét mức độ phổ biến và khác biệt về hiểu biết tài chính và hành vi tài chính của người cao tuổi ở các nước đang phát triển ở Đông Nam Á và Trung Á. Dựa trên dữ liệu cấp độ cá nhân ở các quốc gia này, nghiên cứu đánh giá mức độ hiểu biết tài chính và hành vi tài chính của những người từ 50 tuổi trở lên. Sự khác biệt về giới tỉnh trong các hành vi tài chính phụ thuộc vào loại hành vi tài chính được nghiên cứu và chỉ được phát hiện ở một số hành vi tài chính như so sánh sản phẩm và theo dõi tình hình tài chính. Phù hợp với những phát hiện trước đây ở các nước phát triển, nghiên cứu này cho thấy, hiểu biết về tài chính là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi tài chính. Những cả nhân có trình độ hiểu biết về tài chính thấp hơn có xác suất thấp hơn trong việc thực hiện các hành vi tài chính có trách nhiệm. Kết quả so sánh giữa các quốc gia cũng chỉ ra rằng, các bối cảnh xã hội như phát triển kinh tế có thể có ý nghĩa quan trọng đối với các hành vi tài chính. Các tác giả đưa ra thảo luận về ý nghĩa chính sách của những phát hiện thực nghiệm của nghiên cứu.
Bài viết phân tích thực trạng phát triển hệ thống logistics đường bộ, đường thủy, 33 xác định những thuận lợi, khó khăn trong việc khai thác tiềm năng logistics trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Từ đó đề xuất giải pháp, định hướng khai thác hiệu quả tiềm năng logistics tại địa phương này.
Nghiên cứu nhằm xem xét sự tác động của hình ảnh điểm đến tới sự hài lòng của du khách nội địa đối với điểm đến du lịch Đồng Tháp. Để thực hiện nghiên cứu này, tác giả tiến hành thảo luận nhóm mục tiêu gồm bẫy du khách và sau đó phỏng vấn trực tiếp 350 du khách nội địa (phương pháp chọn mẫu định mức được áp dụng) đối với năm điểm du lịch đặc trưng của tỉnh Đồng Tháp. Sử dụng phương pháp đánh giá mô hình phương trình cấu trúc theo phương cứu chỉ ra rằng: hình ảnh nhận thức cả hai thành phần hình ảnh cảm xúc pháp bình phương nhỏ nhất riêng phần, kết quả nghiêng là tiền để dẫn đến việc hình thành hình ảnh cảm xúc hình ảnh nhận thức đều có tác động trực tiếp và tích cực đến hình ảnh tổng thể, thành phần hình ảnh nhận thức, hình ảnh cảm xúc và hình ảnh tổng thể tác động trực tiếp đến sự hài lòng của du khách.
Bài viết phân tích đánh giá thực trạng phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Nghệ An ở cấp độ doanh nghiệp dựa trên cở tính toán từ số liệu điều tra sơ cấp về doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê giai đoạn 2012 – 2021. Nghiên cứu cho thấy, ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Nghệ An có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng cao hơn so với bình quân chung của vùng Bắc Trung Bộ nhưng kém hơn so với mức trung bình cả nước; doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ có quy mô nhỏ là chủ yếu năng suất còn thấp, mức độ liên kết với doanh nghiệp FDI còn lỏng lẻo do nhiều nguyên nhân khác nhau. Từ đó, bài viết đề xuất một số khuyến nghị giải pháp nhằm phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong bối cảnh mới.