Bài viết này sẽ phân tích mối liên hệ giữa chính sách tiền tệ và thị trường bất động sản từ lý thuyết đến thực tiễn tại các quốc gia trong giai đoạn dịch bệnh COVID-19 đến nay, từ đó đề xuất một số giải pháp về chính sách tiền tệ thúc đẩy, hồi phục thị trường bất động sản Việt Nam hiện nay.
Ngày nay, các yếu tố môi trường, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu, đang đặt ra những thách thức và rủi ro lớn với nhiều ngành kinh tế trên khắp các khu vực, tác động đáng kể tới các nền kinh tế, doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng. Tại Việt Nam, rủi ro biến đổi khí hậu đã và đang diễn biến phức tạp và thực tiễn những năm qua cho thấy, biến đổi khí hậu diễn ra nhanh hơn so với dự kiến, gây nên những hậu quả ngày càng trở nên rõ rệt. Đối với các ngân hàng thương mại (NHTM), việc đánh giá ảnh hưởng của rủi ro biến đổi khí hậu đến rủi ro tín dụng của Ngân hàng vẫn còn mới mẻ đối với các nhà quản lý. Vấn đề quản trị rủi ro trong ngành Ngân hàng trước rủi ro biến đổi khí hậu là một nhiệm vụ quan trọng của các ngân hàng nhằm quản lý và giảm thiểu tổn thất trước những rủi ro tiềm ẩn.
Bài viết tìm hiểu thực trạng và tác động của quy mô hoạt động đối với lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Việt Nam, từ đó đưa ra một số gợi ý nhằm mở rộng quy mô để tăng lợi nhuận tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích hành vi tham gia của người dân trong chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam. Dữ liệu được thu thập ở 7 tỉnh, đại diện cho các vùng kinh tế của cả nước. Phương pháp đo lường chỉ số tham gia được điều chỉnh từ lý thuyết thang đo tham gia. Sau đó, phương pháp cấu trúc tuyến tính được sử dụng để đo lường ảnh hưởng của các yếu tố hành vi và nhận thức của người dân đến sự hài lòng và mức độ tham gia của người dân. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, các yếu tố đẩy xuất phát từ việc cảm nhận và lợi ích mong đợi của người dân là yếu tố quyết định đến sự hài lòng và mức độ tham gia. Trong khi đó, tác động của yếu tố kéo thông qua truyền thông nhà nước không thật sự ảnh hưởng đến hành vi tham gia. Từ đây, các khuyến nghị chính sách tập trung vào cách tiếp cận từ dưới lên để đảm bảo các hoạt động xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của người dân, phù hợp với định hướng của chính phủ và đảm bảo sự phát triển bền vững của chương trình.
Bài viết tổng hợp cơ sở lý thuyết và phân tích thực trạng về tín dụng chính sách cho an sinh xã hội (ASXH) tại Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp với các bên có liên quan, đặc biệt là ngân hàng chính sách xã hội, nhằm tăng cường hơn nữa ASXH bền vững.
Bài viết này phân tích các nhân tố tác động đến việc sử dụng dịch vụ khám, chữa bệnh (nội trú và ngoại trú) của người cao tuổi Việt Nam với dữ liệu từ khảo sát về người cao tuổi và bảo hiểm y tế Việt Nam năm 2019 (viết tắt là OP&SHI 2019). Nghiên cứu sử dụng mô hình lý thuyết hành vi sử dụng dịch vụ của Andersen & Newman (2005) cùng với phân tích hồi quy đa biến. Kết quả cho thấy, trong 12 tháng trước cuộc khảo sát, 18,4% người cao tuổi có sử dụng dịch vụ nội trú với trung bình 2,3 lượt khám, chữa bệnh nội trú, và 76,9% người cao tuổi có sử dụng dịch vụ ngoại trú với trung bình 10,5 lượt khám chữa bệnh ngoại trú. Kết quả ước lượng mô hình hồi quy đa biến chỉ ra rằng sử dụng bảo hiểm y tế trong khám, chữa bệnh; giới tính; tình trạng hôn nhân và khả năng thực hiện các công việc hàng ngày (ADL) có tác động rõ rệt đến xác suất sử dụng dịch vụ y tế của người cao tuổi Việt Nam.
Bài viết này nghiên cứu thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội thời gian qua. Thông qua phân tích biển động về quy mô và tỷ trọng các nguồn vốn huy động tại Ngân hàng Chính sách xã hội từ khi thành lập đến nay, bài viết chỉ ra những ưu điểm cũng như hạn chế chủ yếu trong hoạt động huy động vốn tại ngân hàng này. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả khuyến nghị một số giải pháp cần thực hiện để mở rộng quy mô huy động vốn của Ngân hàng Chính sách xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu tăng trưởng tín dụng chính sách ở Việt Nam trong thời gian tới.
Nghiên cứu tìm hiểu tác động của phát triển tài chính đến năng suất nông nghiệp các quốc gia Đông Nam Á trong giai đoạn 1995-2019 bằng mô hình ước lượng trung gian (PMG). Bằng chứng từ nghiên cứu cho thấy tác động tích cực dài hạn từ phát triển tài chính đến năng suất nông nghiệp ở các quốc gia Đông Nam Á. Các yếu tố giải thích về thu nhập, lao động cũng góp phần gia tăng năng suất nông nghiệp. Dựa trên kết quả nghiên cứu, các hàm ý chính sách cũng được đưa ra nhằm nâng cao năng suất nông nghiệp cho các nước Đông Nam Á thông qua phát triển tài chính.
Tự bền vững về tài chính (Financial Self-Sustainablity, viết tắt: FSS) là một trong những chỉ số quan trọng về phát triển bền vững của tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính vi mô. Nghiên cửu này xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tự bền vững tài chính của các tổ chức hoạt động tài chính vi mô (viết tắt là TCTCVM) và sử dụng số liệu của 24 TCTCVM từ năm 2016 đến năm 2021. Kết quả cho thấy, tỷ lệ an toàn vốn và thu nhập có tác động tích cực đến FSS; đồng thời, tăng trưởng tin dụng, tỷ lệ nợ xấu và tăng trưởng kinh tế có tác động tiêu cực đến FSS. Kết quả này phù hợp với đặc điểm hoạt động và lịch sử phát triển của các TCTCVM tại Việt Nam giai đoạn 2016-2021. Thông qua kết quả nghiên cứu, một số khuyến nghị được đưa ra nhằm tăng tính bền vững tài chính của các TCTCVM Việt Nam và giúp các nhà quản lý nhận diện được tác động này để quản lý hoạt động của TCTCVM tốt hơn.
Bài viết này nghiên cứu thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội thời gian qua. Thông qua phân tích biển động về quy mô và tỷ trọng các nguồn vốn huy động tại Ngân hàng Chính sách xã hội từ khi thành lập đến nay, bài viết chỉ ra những ưu điểm cũng như hạn chế chủ yếu trong hoạt động huy động vốn tại ngân hàng này. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả khuyến nghị một số giải pháp cần thực hiện để mở rộng quy mô huy động vốn của Ngân hàng Chính sách xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu tăng trưởng tín dụng chính sách ở Việt Nam trong thời gian tới.