CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Mức độ hài lòng về chất lượng dịch vụ đào tạo đại học của các trường Đại học: nhìn từ các nghiên cứu trải nghiệm / Hoàng Thị Thủy, Phạm Thị Châu Giang // .- 2023 .- Số 646 - Tháng 11 .- Tr. 84-86 .- 378
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có sự quan tâm nhiều hơn đến chất lượng dịch vụ đào tạo ở các trường đại học thể hiện qua việc ban hành những tiêu chuẩn quản lý chất lượng dịch vụ đào tạo, tuy nhiên các tiêu chuẩn này phức tạp, vì thế khó có thể áp dụng là một công cụ đánh giá chất lượng dịch vụ một cách thường xuyên. Do đó bài nghiên cứu dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa mức độ hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo của các trường đại học, từ đó làm rõ kết quả đạt được va khoảng trống nghiên cứu, qua đó đề xuất thêm hướng nghiên cứu đối với các bài nghiên cứu về sự hài lòng của người học về chất lượng dịch vụ đào tạo của các trường đại học tại Việt Nam.
2 Quyền điều hành kinh doanh của thành viên hợp danh trong công ti đấu giá hợp danh theo pháp luật Việt Nam trong tương quan so sánh với pháp luật của Pháp và Nhật Bản / Nguyễn Tiến Đạt, Nguyễn Như Hà // .- 2023 .- Số 10 .- Tr. 81- 95 .- 340
Bài báo nghiên cứu và phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền điều hành kinh doanh của thành viên hợp danh trong cổng tỉ đấu giá hợp danh trên cơ sở so sánh, đổi chiếu với pháp luật của Pháp và Nhật Bản. Từ đo bài viết chỉ ra những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật Việt Nam, đồng thời học hỏi kinh nghiệm pháp luật của Pháp và Nhật Bản và dựa trên nền tảng thể chế kinh tế - chính trị - xã hội Việt Nam đề xuất các phương hướng sửa đổi, bổ quy định pháp luật Việt Nam về quyền điều hành kinh doanh của thành viên hợp danh trong công ti đấu giá hợp danh.
3 Lí luận về trách nhiệm pháp lí không dựa trên lỗi trong giải quyết tranh chấp môi trường và gợi mở cho Việt Nam / Nguyễn Đắc Thắng // .- 2023 .- Số 10 .- Tr. 96- 107 .- 340
Bài viết làm rõ các vấn đề lí luận về trách nhiệm pháp lí không dựa trên lỗi trong giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường trên cơ sở của học thuyết trách nhiệm nghiêm ngặt, trách nhiệm tuyệt đối và nguyên tắc về sự phân phối công bằng; phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến vấn đề này. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất sửa đổi quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 theo hưởng áp dụng trách nhiệm tuyệt đối cho hành vi kinh doanh và trách nhiệm nghiêm ngặt cho các trường hợp còn lại.
4 Chính sách nhân quyền của liên minh Châu Âu đối với Vệt Nam và một số đề xuất đối sách / Nguyễn Thị Kim Ngân // .- 2023 .- Số 10 .- Tr. 108- 120 .- 340
Thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền là một trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu (EU) với các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Quan hệ hợp tác Việt Nam - EU luôn có nội dung đề cập vấn đề nhấn quyền, ngay cả trong bối cảnh kí kết các hiệp định thương mại, đầu tư giữa các bên như Hiệp định Thương mại tự do (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (EVIPA). Bài viết phân tích bối cảnh hình thành, nội dung chính sách nhận quyền của EU đối với Việt Nam đưa ra những đánh giá về chính sách đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm phát huy hiệu quả quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - EU cũng như quan hệ trong lĩnh vực thúc đẩy và bảo đảm quyền con người.
5 Pháp luật về “Greenwashing” - kinh nghiệm quốc tế và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam / Nguyễn Thị Huyền, Nguyễn Trang Linh, Hoàng Hà Anh // .- 2023 .- Số 10 .- Tr. 121- 137 .- 340
Kinh doanh và tiêu dùng xanh đang là xu hướng của thời đại, kéo theo sự gia tăng nhanh chóng của hiện tượng “greenwashing” - một hình thức quảng cáo nhằm gây ấn tượng sai lệch cho người tiêu dùng về tính “xanh” của sản phẩm. Theo pháp luật nhiều quốc gia, đây được coi là hành vi quảng cáo sai sự thật và cạnh tranh không lành mạnh. Bài viết nghiên cứu các quy định pháp luật của EU, Hoa Kỳ... về “greenwashing”, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này, bao gồm việc cụ thể hoá quy định về yếu tố “gây nhầm lẫn” trong quảng cáo, nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp hay trao thêm quyền cho cơ quan quản lí nhà nước về quảng cáo và/hoặc cạnh tranh. Những kiến nghị này là phù hợp với bối cảnh tiêu dùng xanh Việt Nam và hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh của Việt Nam về vấn đề này.
6 Quyền về lối đi qua khi bất động sản bị vây bọc theo bộ luật dân sự cộng hoà Pháp / Nguyễn Dương Anh Thắng, Châu Minh Tân // .- 2023 .- Số 10 .- Tr. 138- 148 .- 340
Tại Pháp, quyền sở hữu tài sản nói chung và với bất động sản nói riêng là một quyền tự nhiên được quy định bởi Bộ luật Dân sự và được Hiến pháp bảo đảm, qua đó tạo cơ sở pháp lí cho việc thực hiện các quyền hưởng dụng và định đoạt cho các chủ sở hữu một cách tuyệt đối và tự do. Tuy nhiên, trên thực tế, quyền sở hữu bất động sản tại Pháp vẫn chịu một số hạn chế nhất định theo quy định của pháp luật mà các nội dung về dịch quyền, hay còn được biết đến với thuật ngữ quyền đối với bất động sản liền kề tại Việt Nam là một ví dụ cụ thể. Trong số các dịch quyền được quy định bởi pháp luật thì quyền về lối đi qua dành cho bất động sản bị vây bọc là một nội dung quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện quyền của chủ sở hữu bất động sản. Bài viết trình bày cơ sở pháp lí và việc áp dụng quy định liên quan đến dịch quyền về lối đi qua đối với bất động sản bị vây bọc theo Bộ luật Dân sự Cộng hoà Pháp; liên hệ với quy định tương tự tại Việt Nam.
7 Phân cấp đầu tư công khu vực kinh tế Đông Nam Bộ, Việt Nam giai đoạn 2016–2021 / Phạm Thái Bình, Đặng Văn Cường, Nguyễn Hồng Thắng // .- 2023 .- Số 07 .- Tr. 36-52 .- 332.63
Bài viết này phân tích thực trạng phân cấp đầu tư hiện nay của Vùng so với trung bình chung của cả nước; từ đó đề xuất một số giải pháp tăng cường phân cấp và nâng cao hiệu quả giải ngân đầu tư công cho Vùng.
8 Tác động của chia sẻ thông tin đến hiệu suất chuỗi cung ứng vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu : nghiên cứu thực nghiệm tại khu vực Đông Nam Bộ Việt Nam / Nguyễn Thanh Hùng // .- 2023 .- Số 07 .- Tr. 118-135 .- 658
Nghiên cứu áp dụng mô hình PLS-SEM với 220 doanh nghiệp là các bên thuộc chuỗi cung ứng vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu khu vực đông nam bộ. Kết quả định lượng cho thấy việc chia sẻ thông tin ảnh hưởng tích cực và đáng kể đến khả năng hiển thị, hợp tác, linh hoạt cũng như hiệu suất của chuỗi cung ứng. Khả năng hiển thị của chuỗi cung ứng tác động tích cực đến khả năng hợp tác, linh hoạt và hiệu suất; khả năng hợp tác và linh hoạt tác động đáng kể đến hiệu suất của chuỗi cung ứng. Theo đó, nghiên cứu cho rằng chia sẻ thông tin là chìa khóa để gia tăng hiệu suất và khả năng cạnh tranh chuỗi cung ứng vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu, đặc biệt trong bối cảnh thị trường vận tải đang khủng hoảng sau COVID-19 như hiện nay.
9 Vai trò của chuyển đổi số đối với tăng trưởng kinh tế vùng Đông Nam Bộ / Nguyễn Lê Hoàng Thụy Tố Quyên, Đặng Thị Ngọc Thế // .- 2023 .- Số 07 .- Tr. 53-66 .- 330
Nghiên cứu sử dụng kết hợp khung lý thuyết mô hình tăng trưởng cổ điển và hiện đại nhằm đánh giá tác động của chuyển đổi số đến tăng trưởng kinh tế Vùng Đông Nam Bộ. Sử dụng dữ liệu thứ cấp giai đoạn từ 2005 - 2021 của 6 tỉnh, thành phố thuộc Vùng Đông Nam Bộ và phương pháp hồi quy Pooled Mean Group (PMG), kết quả nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng về vai trò của chuyển đổi số, cụ thể là chỉ số phát triển công nghệ thông tin (ICT Index) làm tăng đáng kể GRDP của Vùng. Bên cạnh đó, vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và vốn con người (được đo lường bằng tỷ lệ người lao động có trình độ cao đẳng trở lên) cũng được xác nhận trong mô hình tăng trưởng. Một phát hiện thú vị của nghiên cứu là tác động của thể chế được đánh giá ở khía cạnh chính sách phát triển kinh tế tư nhân hay dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp không giúp làm tăng GRDP của Vùng như kỳ vọng.
10 Hành vi áp dụng công nghệ 4.0 của doanh nghiệp vùng Đông Nam Bộ, Việt Nam : tác động của bối cảnh công nghệ, tổ chức và môi trường hoạt động / Ngô Hoàng Thảo Trang, Phạm Khánh Nam, Trần Thanh Trúc // .- 2023 .- Số 07 .- Tr. 67-84 .- 658
Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ 4.0, các doanh nghiệp Việt Nam đang cân nhắc chuyển đổi sử dụng các giải pháp kỹ thuật số để nâng cao năng suất, hiệu quả và khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, áp dụng công nghệ 4.0 tại Việt Nam đang gặp phải nhiều thách thức, bao gồm các vấn đề liên quan đến công nghệ hiện tại của doanh nghiệp, đặc điểm tổ chức và môi trường bên ngoài. Kết quả phân tích mô hình hành vi đầu tư của 2.734 doanh nghiệp vùng Đông Nam Bộ cho thấy chỉ có 24,18% doanh nghiệp áp dụng công nghệ 4.0, trong đó thể chế, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin, trình độ lao động trong doanh nghiệp là nhóm các yếu tố chính tác động đến quyết định ứng dụng công nghệ 4.0 của doanh nghiệp vùng ĐNB.