Tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Với sự hỗ trợ từ nguồn vốn tín ngân hàng mà các doanh nghiệp, người dân trong Vùng có thể tiếp cận vốn để đầu tư mở rộng sản xuất, phát triển kinh doanh và nâng cao chất lượng cuộc sống. Bài viết tập trung vào phân tích thực trạng và làm rõ một số hạn chế về tín dụng ngân hàng tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời gian vừa qua, trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy phát triển tín dụng ngân hàng tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn tới.
Nghiên cứu đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi phòng ngừa việc gian lận qua ngân hàng điện tử khi thực hiện giao dịch dựa trên Lý thuyết động lực bảo vệ. Thông qua việc khảo sát 253 người sử dụng giao dịch trực tuyến tại TP. Hồ Chí Minh, nhóm tác giả đã tiến hành phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy đa biến qua phần mềm SPSS 25. Kết quả phân tích cho thấy, ảnh hưởng xã hội có tác động mạnh mẽ nhất đến hành vi phòng ngừa gian lận khi thực hiện giao dịch qua nền tảng trực tuyến. Nghiên cứu đề ra các giải pháp nhằm nâng cao ý thức phòng ngừa khi sử dụng ngân hàng điện tử để giao dịch; các giải pháp nâng cao chất lượng hệ thống bảo mật thông tin cho khách hàng hay tuyên truyền, cảnh báo các cách thức lừa đảo và kịp thời xử lý các vấn đề còn nhiều bất cập.
Nghiên cứu này sử dụng mô hình ARIMA để dự báo tỷ trọng trong tổng sản phẩm trên địa bàn các lĩnh vực của TP. Hồ Chí Minh. Dữ liệu tổng sản phẩm TP. Hồ Chí Minh thu được từ Niên giám thống kê trong giai đoạn 2000-2022. Kết quả dự báo tỷ trọng trong tổng sản phẩm trên địa bàn các nhóm ngành của TP. Hồ Chí Minh như sau: Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 0,65%, tương đương 8.390 tỷ đồng vào năm 2022 xuống 0,5% tương đương 8.697 tỷ đồng vào năm 2030; Ngành công nghiệp và xây dựng giảm từ 24,45% tương đương 326.248 tỷ đồng năm 2022 xuống 21,96% tương đương 383.719 tỷ đồng vào năm 2030; Ngành dịch vụ tăng từ 73,89% tương đương 947.044 tỷ đồng năm 2022 lên 77,54% tương đương 1.354.612 tỷ đồng vào năm 2030. Dựa vào kết quả dự báo tác giả đề xuất một số giải pháp giúp chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế của TP. Hồ Chí Minh theo xu thế Cách mạng công nghiệp 4.0 một cách phù hợp.
Hầu hết các nghiên cứu trước đây về ý định của người tiêu dùng đều sử dụng lý thuyết về hành vi có kế hoạch hoặc lý thuyết về hành động hợp lý làm nền tảng lý thuyết. Tuy nhiên, nghiên cứu này ứng dụng lý thuyết giá trị tiêu dùng nhằm nghiên cứu về ý định tiêu dùng nội dung số của thế hệ Z tại Việt Nam. Nhóm tác giả đề xuất khung nghiên cứu gồm: các định nghĩa và đặc điểm tiêu dùng số của thế hệ Z, các định
nghĩa về nội dung số, lý thuyết giá trị tiêu dùng có tác động tới ý định tiêu dùng nội dung số của thế hệ Z với phương pháp nghiên cứu (dự kiến) là định lượng. Đây là tiền đề để nghiên cứu yếu tố tác động tới ý định tiêu dùng nội dung số của thế hệ Z trên mạng xã hội với kết quả phân tích hồi quy và hệ số tương quan.
Marketing bằng video ngắn trên mạng xã hội mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp. Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ xem xét các nhân tố ảnh hưởng của marketing bằng video ngắn trên mạng xã hội đến ý định mua hàng của thế hệ Z tại Việt Nam. Từ đó, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu tích hợp thuyết hành động hợp lý (TRA) với thuyết sử dụng và hài lòng (U&G). Mô hình sẽ là tiền đề để tác giả tiến hành các phân tích tiếp theo.
Sự gia tăng vượt bậc về khả năng công nghệ đã thúc đẩy sự phổ biến của người có sức ảnh hưởng ảo (virtual influencer). Các thương hiệu và doanh nghiệp đã dần nhận ra tiềm năng của việc tương tác với người tiêu dùng thông qua những nhân vật ảo. Nghiên cứu này được thực hiện trên 182 đáp viên đang sinh sống và làm việc tại TP. Hồ Chí Minh cho thấy, các yếu tố: Sự yêu thích người có sức ảnh hưởng ảo, Chất lượng thông tin từ người có sức ảnh hưởng ảo, Sự đồng điệu với sản phẩm của người có sức ảnh hưởng ảo, Sự đáng tin cậy của người có sức ảnh hưởng ảo đều tác động đến ý định mua hàng của khách hàng gen Z.
Nghiên cứu định lượng được tiến hành với 200 mẫu khảo sát nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh. Kết quả sau khi phân tích độ tin cậy thang đo, nhân tố khám phá, hồi quy và kiểm định sự phù hợp của mô hình cho thấy có 3 nhân tố: Nhận thức rủi ro, Kiểm soát hành vi và Ảnh hưởng xã hội là những nhân tố có ảnh hưởng tích cực đến quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng TP. Hồ Chí Minh. Qua đó, nghiên cứu đề xuất các hàm ý quản trị giúp các doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến tại TP. Hồ Chí Minh nâng cao hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Kể từ khi ra đời, khung tham chiếu Châu Âu về ngôn ngữ (CEFR) đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực và có ảnh hưởng sâu rộng đặc biệt trong kiểm tra đánh giá. Trên cơ sở các nguyên tắc ứng dụng khung CEFR, bài báo nghiên cứu thực trạng áp dụng khung CEFR vào kiểm tra đánh giá tại ĐHNN, ĐHH. Phương pháp nghiên cứu định tính với hai hình thức gồm nghiên cứu văn bản và phỏng vấn nhóm được áp dụng. Kết quả nghiên cứu đã nêu lên thực trạng áp dụng khung CEFR trong kiểm tra đánh giá cũng như các hạn chế của nó. Từ đó, một số đề xuất về quy trình áp dụng đã được đưa ra.
Thời gian vừa qua, chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các khu vực kinh tế đã có đóng góp quan trọng vào tăng trưởng năng suất lao động, nhưng có sự biến động khác nhau trong mỗi giai đoạn. Bài viết đánh giá tăng năng suất lao động nhìn từ góc độ chuyển dịch lao động và đưa ra một số giải pháp nhằm tăng năng suất lao động của Việt Nam trong thời gian tới.
Nâng cao trình độ tiếng Anh cho học sinh là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục Việt Nam. Việc tìm ra các phương pháp giảng dạy mới, giúp học sinh chủ động, tích cực trong học tập được xem là một giải pháp trong giai đoạn hiện nay. Bài báo này trình bày kết quả của việc tích hợp giảng dạy tiếng Anh trong các lớp giáo dục thể chất cho học sinh lớp 2 bằng phương pháp “Brainball”. Thiết kế nghiên cứu gồm một thực nghiệm sư phạm với kỹ thuật nhóm song song (thực nghiệm và đối chứng). Kết quả của nghiên cứu cung cấp những hiểu biết ban đầu đầy hứa hẹn rằng việc sử dụng Brainball trong các giờ học Thể dục có thể là một cách tiếp cận hữu ích để cải thiện khả năng vận động và nâng cao thành tích học tập cho học sinh.