Quản lý tài sản công (TSC) tại các cơ sở giáo dục đại học (CSGDĐH) công lập là hoạt động phối hợp của một tổ chức để nhận toàn bộ giá trị tài sản trong việc cung cấp các mục tiêu cung cấp dịch vụ. Việc cần thiết để quản lý TSC hiệu quả tại các CSGDĐH công lập là xây dựng một hệ thống toàn điện về quản lý TSC bao gồm luật và quy định, hệ thống thông tin tài sản và hàng tồn kho, mua bán, đáng ký tài sản, báo cáo tài chính. Việc quản lý TSC kết hợp các chính sách, thành phần quản lý trong suốt quá trình vòng đời tài sản từ hình thành tài sản đến kết thúc sử dụng tài sản. Quá trình thiết lập TSC tại các CSGDĐH công lập vẫn bắt đầu từ lập lên kế hoạch tài sản công, thiết kế nguồn lực, định hướng sử dụng cho mua sắm, hình thành tài sản đến vận hành, sử dụng, bảo trì và kết thúc tài sản. Bài viết khái quát kinh nghiệm của một số nước về quản lý TSC trong các CSGDĐH công lập hiện nay và một số khuyến nghị cho Việt Nam.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, cơ cấu việc làm trên toàn cầu đã và đang có xu hướng chuyển đổi sang tự động hóa, số hóa. Điều này đặt ra những thách thức không nhỏ về kỹ năng số của lực lượng lao động. Bài viết phân tích thực trạng về kỹ năng số của lực lượng lao động ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường kỹ năng số cho người lao động ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
Thế giới đang bước vào một kỷ nguyên mới với những thay đổi phi thường, trong đó công cuộc chuyển đổi số rộng khắp trên mọi lĩnh vực và ở mọi quốc gia đóng vai trò nền tảng và là động lực chủ đạo. Trong kỷ nguyên với những quốc gia và doanh lớn, tầm nhìn thời đại những thành quả phát triển Bài viết khái quát đặc trưng, xu hướng và những lợi ích to lớn của chuyển đổi số (CĐS) với sự phát bền vững của các doanh nghiệp Việt Nam (DNVN), từ đó có giải pháp hiệu quả thúc đẩy quá trình chuyên đối số tại các DNVN trong nỗ lực thiết kế và triển khai công cuộc chuyển đổi số của mình.
Bài viết này phân tích những thay đổi trong môi trường làm việc của ngành kế toán kiểm toán dưới tác động của công nghệ số hóa và cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0. Để thích ứng với xu thế mới, bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao kỹ năng công nghệ, kỹ năng mềm và khả năng học hỏi liên tục đối với người làm kế toán trong tương lai. Đồng thời, để xuất giải pháp đào tạo, bồi dưỡng nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu mới của ngành.
Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam sử dụng kỹ thuật cào dữ liệu trực tuyến quy mô lớn để thu thập dữ liệu lớn về giá cả niêm yết trên các trang thương mại điện tử bán hàng trực tuyến lớn nhất ở Việt Nam, liên tục theo ngày trong thời gian 3 năm. Chúng tôi xây dựng một chỉ số giá tiêu dùng phản ánh hành vi của giá các mặt hàng được bày bán trên thị trường thương mại điện tử Việt Nam, tạm gọi là chỉ số giá trực tuyến (OPI). Do sự khác biệt trong cơ chế đặt giá cũng như độ phủ của rổ hàng hóa, chỉ số OPI biểu lộ những tính chất rất khác biệt so với chỉ số giá tiêu dùng (CPI) truyền thống, dù trong một số nhóm ngành hai chỉ số có khuynh hướng hội tụ. Với quy mô lớn và gần như tức thời, OPI biểu lộ nhiều tính chất cụ thể hơn CPI một cách đáng kể, đặc biệt trong việc nắm bắt và ứng báo diễn biến giá.
Toàn cầu hoá đã và đang đặt ra những yêu cầu mới đối với các thế hệ lãnh đạo doanh nghiệp. Các phương pháp lãnh đạo cũ có thể không còn hiệu quả trong bối cảnh toàn cầu. Bối cảnh mới đòi hỏi tìm ra những năng lực lãnh đạo thích hợp của doanh nhân để đáp ứng với những thay đổi đó. Trên cơ sở khảo cứu tài liệu, nghiên cứu này tổng quan năng lực lãnh đạo toàn cầu cần thiết trong bối cảnh mới, đánh giá năng lực lãnh đạo toàn cầu của doanh nhân Việt Nam, từ đó đưa ra một số gợi ý góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo toàn cầu của doanh nhân Việt Nam trong quá trình xây dựng quốc gia thịnh vượng.
Hiện nay, các biện pháp trừng phạt của Mỹ và đồng minh phương Tây đối với Nga và việc Nga giảm cung cấp khí đốt tự nhiên cho châu Âu làm xáo trộn trạng thái cân bằng cung cầu trên thị trường năng lượng hóa thạch. Trong khi châu Âu có các lựa chọn thay thế nguồn năng lượng nhập khẩu từ Nga, vị thế cường quốc xuất khẩu nguyên liệu thô toàn cầu của Nga đang bị đe dọa. Tuy nhiên, trong trung và dài hạn, các biện pháp trừng phạt và cô lập ngày càng cứng rắn từ các thị trường phương Tây đối với Nga có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với ngành năng lượng của Nga và tương lai của nước này với tư cách cường quốc nguyên liệu hóa thạch.
Nghiên cứu mức độ hài lòng của người gửi tiên đối với chính sách bảo hiểm tiên gửi là một trong những cách tiếp cận trực tiếp để có thể có cái nhìn độc lập khách quan góp phân cải thiện và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách. Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu, điêu tra khảo sát và phân tích thống kê mô tả, nghiên cứu làm rõ mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến sự hài lòng của người gửi tiên đối với chính sách bảo hiểm tiên gửi. Các khuyến nghị nhãn mạnh vào công tác thực thi chính sách, tăng cường tuyên truyên và hiểu biết của người gửi tiên đối với bảo hiểm tiên gửi, góp phần đảm bảo an toàn hệ thống tài chính tín dụng quốc gia.
Đối mới (innovation) được coi là một tiền đề quan trọng để tạo ra năng lực cạnh tranh nhằm đạt được sự tăng trưởng dài hạn của công ty trong môi trường kinh doanh luôn biến đổi như hiện nay. Không thể phủ nhận những kết quả đạt được của ngành điện nói chung và doanh nghiệp phân phối điện nói riêng do đổi mới. Tuy nhiên, sau đại dịch Covid 19 và áp lực từ phục hồi kinh tế nhanh chóng đòi hỏi cần có sự thúc đẩy đổi mới mạnh mẽ hơn nữa. Bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh đối mới mà đặc biệt đối mới quản lý trong lĩnh vực phân phối điện năng.
Nghiên cứu giới thiệu phương pháp ứng dụng mô hình mạng Neural network trong việc xác định tâm lý tiêu dùng trực tuyến nhằm giúp các doanh nghiệp dựa vào đánh giá sản phẩm để có đánh giá chung về tâm lý tiêu dùng. Bài viết này trình bày ứng dụng phân loại cảm xúc khách hàng khi mua thiết bị điện tử online qua shopee, mua bán ngôn ngữ tiếng Việt. Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng phân loại chính xác các đánh giá tiêu cực và không tiêu cực đạt độ chính xác xấp xỉ 90% cho thấy mô hình có khả năng phân loại tốt trong việc phân loại các đánh giá tiêu cực và không tiêu cực và phù hợp cho việc áp dụng phân loại đối với các dữ liệu thực tế.