Ngày nay, con người ngày càng phụ thuộc vào các đại dương. Việc sử dụng và phát triển nguồn hải sản là điều hiển nhiên thì công tác bảo tồn chúng vừa là điều kiện cần vừa là trách nhiệm. Ngoài tình trạng bién đổi khí hậu đang tác động tất yếu đến các đại dương, như nhiệt độ nước biển tăng, nồng độ acid trong nước biển tăng, nồng độ muối (độ mặn) trong nước biển giảm... thúc đẩy một số loài hải sản di cư, làm thay đổi hệ sinh thái địa phương, thì những hành vi của con người, đặc biệt do nhu cầu thực phẩm không ngừng tăng lên đã khiến những loài khác đang đứng trước nguy cơ bị khai thác quá mức hay thậm chí tuyệt chủng. Nhưng sự gia tăng dân số toàn cầu không nên và không phải là lý do cho việc khai thác tài nguyên hải sản ngày càng nhiều hơn. Trong khi nhiều quốc gia đã có những nỗ lực đáng kể, như cải thiện việc quản lý các nguồn tài nguyên thủy sản, xây dựng mô hình nuôi trồng hải sản bền vững và thương mại công bằng, thì việc củng cố và phát triển những nỗ lực này trên quy mô lớn sẽ cho phép khôi phục các đại dương vài lại sinh kế cho hàng tỷ người.
Từ năm 1948 đến năm 1994, đất nước Nam Phi đặt dưới sự thống trị của chế độ Apartheid — chế độ phân biệt chủng tộc hà khắc nhất trên thế giới. Chế độ này dành mọi quyền ưu tiên cho thiểu số người da trắng gốc Âu, trong khi chà đạp lên tất cả lợi ích chính đáng của người da đen, da màu Nam Phi, đặc biệt là các quyền về kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội. Cuộc đấu tranh xóa bỏ chế độ Apartheid ở Nam Phi do Nelson Mandela và tổ chức Đại hội dân tộc Phi (ANC) lãnh đạo phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau như đấu tranh chính trị, vũ trang và đấu tranh trên bàn đàm phán. Trong đó, đàm phán chuyển đổi chính trị, chấm dứt chế độ Apartheid là giai đoạn đấu tranh gay go, quyết liệt. Đấu tranh trên bàn đàm phán diễn ra từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX và giành thắng lợi quyết định được đánh dấu bằng thành công của cuộc bầu cử dân chủ, đa chủng tộc đầu tiên ở Nam Phi năm 1994.
Mục tiêu chính của nghiên cứu này là kiểm tra tác động của chi tiêu chính phủ đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế Nigeria. Nghiên cứu này đã xem xét cụ thể tác động của vốn chính phủ, chi tiêu thường xuyên của chính phủ và thâm hụt ngân sách của chính phủ đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế Nigeria. Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ Ngân hàng Thế giới. Nghiên cứu sử dụng mô hình VAR để phân tích dữ liệu. Kết quả cho thấy chi tiêu vốn của chính phủ có tác động tích cực nhưng không đáng kể đến sự tăng trưởng của nền kinh tế Nigeria. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng thâm hụt tài chính của chính phủ có tác động tiêu cực không đáng kể đến sự tăng trưởng của nền kinh tế Nigeria. Cuối cùng, nghiên cứu phát hiện trong ngắn hạn, chi tiêu thường xuyên của chính phủ có tác động tích cực không đáng kể đến tăng trưởng của nền kinh tế Nigeria trong khi về lâu dài, nó có tác động tích cực nhưng không đáng kể đến tăng trưởng kinh tế.
Báo cáo khái lược hệ thống các đề tài nghiên cứu về khu vực Trung Đông của Viện Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông, giai đoạn từ năm 2004 đến nay. Sau đó, dựa trên các tư liệu cập nhật, nghiên cứu sẽ chi ra những mảng sáng và mảng tối trong bức tranh Trung Đông hiện nay gồm quan hệ quốc tế, kinh tế, tôn giáo, văn hoá... Cuối cùng, báo cáo đề cập và gợi mở cho quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các quốc gia Trung Đông trong thời gian tới.
Bài viết điểm lại những hậu quả của cuộc binh biến cũng như tác động, phản ứng từ các đối tác của Niger, đồng thời đưa ra một số hàm ý đối với các bên liên quan.
Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu phát hiện các tập giá trị bất thường trong dữ liệu kế toán bằng các phương pháp phân tích outliers theo định luật Benford, ước tính khoảng tin cậy và phương pháp kiểm định thống kê. Kết quả nghiên cứu trên 11 tệp dữ liệu nhật ký chung với tổng số quan sát là 11.955 trên khoản mục doanh thu bán hàng hóa và dịch vụ của một số doanh nghiệp tại Việt Nam cho thấy một số điểm bất thường trong dữ liệu kế toán của các doanh nghiệp đã được phát hiện. Mục đích của nghiên cứu này giúp cho kiểm toán viên có thêm công cụ để phát hiện ra những giá trị sai sót trọng yếu hoặc sự gian lận trong các tập dữ liệu kế toán làm cơ sở cho việc đưa ra ý kiến kiểm toán của các KTV đối với các báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Bài viết trình bày tổng quan về các kỹ thuật liên quan tới các phương pháp tìm kiếm mã nguồn dựa trên học sâu nhằm giúp những người đọc cũng có cái nhìn tổng quan về quy trình xây dựng mô hình tìm kiếm mã, cũng như các kỹ thuật cần phải tìm hiểu khi muốn đi sâu vào lĩnh vực này.
Bài báo đánh giá một cách tổng quan về ứng dụng kinh tế tuần hoàn trong ngành du lịch. Để nhận diện các tài liệu có liên quan, tác giả tiến hành tìm kiếm trên các cơ sở dữ liệu web of science và scopus với kết quả bao gồm 20 bài báo khoa học được xuất bản trong khoảng thời gian từ 2018 – 2023. Qua đó, bài báo đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu cả các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về phát triển kinh tế tuần hoàn trong du lịch. Kết quả cho thấy các yếu tố khoa học kỹ thuật và đặc công nghệ số đóng vai trò quan trọng đối với quá trình chuyển đổi số sang kinh tế tuần hoàn trong các doanh nghiệp.
Nghiên cứu xem xét vai trò của các biến số mở rộng kết hợp cùng các biến số trong mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) gốc để giải thích ý định và hành vi mua hàng thời trang xa xỉ của Gen Z tại Việt Nam. Thông qua kiểm định mô hình nghiên cứu với cỡ mẫu là 388 được thu thập từ Gen Z (11-26 tuổi) tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Hồ Chí Minh, kết quả cho thấy tất cả các giả thuyết đều tác động trực tiếp cùng chiều với ý định và hành vi mua thời trang xa xỉ. Sử dụng kết quả nghiên cứu này, các thương hiệu thời trang xa xỉ có thể chủ động xây dựng các chiến lược kinh doanh phù hợp thúc đẩy lượt bản và tăng doanh thu với các khách hàng Gen Z Việt Nam.
Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua nhà của các gia đình trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng, với 386 mẫu khảo sát là các gia đình trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 7 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua nhà của các gia đình trẻ: Tài chính; vị trí; nhóm tham khảo; môi trường; sự bất hòa; thiết kế, và khẳng định bản thân. Trong đó, tài chính là nhân tố có tác động mạnh nhất đến quyết định mua nhà của các gia đình trẻ. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số hàm ý quản trị giúp các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản gia tăng được nhiều khách hàng là các gia đình trẻ mua nhà trong thời gian tới.