Hồi quy Tobit được sử dụng để phân tích số liệu khảo sát từ 178 cán bộ công chức tiếp cận tín dụng tín chấp, từ 3 địa phương là huyện Bình Tân, thị xã Bình Minh và thành phố Vĩnh Long. Kết quả cho thấy, lượng vốn cán bộ, công chức vay được từ các ngân hàng thương mại chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố như giới tính, thâm niên công tác, thời gian công tác còn lại, số người phụ thuộc trong gia đình, thu nhập hàng tháng, chi tiêu hàng tháng, sự sẵn lòng ký xác nhận của thủ trưởng đơn vị và mục đích vay của họ.
Nghiên cứu này phân tích mối quan hệ giữa quản lý quan hệ khách hàng (CRM) và hiệu quả hoạt động của các công ty logistics thành phố Hồ Chí Minh với vai trò trung gian của khả năng đổi mới. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 9/9 giả thuyết đều đạt như kỳ vọng ban đầu, trong đó mức độ tác động đối với khả năng đổi mới lần lượt là: Quản lý kiến thức; Tổ chức quản lý quan hệ khách hàng; Định hướng khách hàng; Quản lý quan hệ khách hàng dựa trên công nghệ. Kết quả cũng cho thấy, có sự tác động tích cực giữa khả năng đổi mới và hiệu suất tổ chức.
Bài viết phân tích, đánh giá phương thức Ma-lai-xi-a phản ứng trước sự quấy nhiễu của Trung Quốc đối với các hoạt động dầu khí trên biển của mình. Cụ thể, bài viết sẽ làm rõ thực trạng tàu Trung Quốc xâm nhập vùng biển Ma-lai-xi-a, yêu sách và quấy nhiễu các hoạt động dầu khí của Ma-lai-xi-a. Thông qua xem xét các biện pháp phản ứng của Ma-lai-xi-a đối với hoạt động của tàu Trung Quốc, từ phản ứng trên thực địa đến các phản ứng về mặt ngoại giao, chính trị, truyền thông, và của giới học giả, tác giả bài viết sẽ đưa ra lý giải về cách thức phản ứng của Ma-lai-xi-a cũng như đánh giá mức độ hiệu quả của cách phản ứng này.
Bài viết sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá và phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính, tìm ra được 6 nhân tố hưởng đến chất lượng dịch vụ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải Việt Nam (MSB) khu vực TP. Hồ Chí Minh, sắp xếp theo thứ tự: Sự tin cậy; sự đáp ứng; sự đảm bảo; sự thấu hiểu;công nghệ 4.0 và kỹ năng nhân viên. Dựa trên kết quả đó, nhóm tác giả đưa ra giải pháp cụ thể đối với từng nhân
tố để nâng cao chất lượng dịch vụ tại hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam trong cả nước nói chung và khu vực thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
Nguồn nhân lực luôn là tài sản vô giá của bất kỳ một doanh nghiệp nào. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, các doanh nghiệp đang phải đối mặt với tình trạng “chảy máu chất xám” do những lao động giỏi không muốn gắn kết lâu dài với doanh nghiệp. Trong lĩnh vực du lịch, thời gian qua, tình trạng thiếu hụt lao động có kinh nghiệm và tình trạng người lao động phải rời khỏi doanh nghiệp hoặc nhảy việc diễn ra khá thường xuyên, đặc biệt trong giai đoạn đại dịch COVID-19 bùng phát. Năm 2024, ngành du lịch Việt Nam đặt mục tiêu đón 17-18 triệu lượt khách quốc tế. Để đạt được mục tiêu này gắn với định hướng phát triển ngành Công nghiệp du lịch bền vững thì yêu cầu đặt ra đối với doanh nghiêp du lịch hiện nay là phải đảm bảo nguồn nhân lực đủ cả về số lượng lẫn chất lượng, trong đó cần duy trì sự gắn bó của người lao động trong doanh nghiệp du lịch.
Sử dụng phương tiện giao thông phát thải khí các bon có ảnh hưởng tới môi trường và phát triển bền vững của Việt Nam và nhiều quốc gia. Người tiêu dùng đang được khuyến khích chuyển sang sử dụng phương tiện giao thông công cộng hoặc sử dụng xe điện nhằm giảm thiểu phát thải khí các bon. Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các nhân tố ảnh hưởng tới ý định mua xe điện của người tiêu dùng Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhân tố có thể ảnh hưởng đến hành vi mua xe điện (NTD) bao gồm: cơ sở hạ tầng (CSHT), chính sách của nhà nước (CS), nhận thức về môi trường (MT), chất lượng cảm nhận (CM), chi phí (CP) và ảnh hưởng của truyền thông (TT).
Trong những năm gần đây, phụ nữ, hòa bình và an ninh đã trở thành một chương trình nghị sự toàn cầu, được chú trọng thúc đẩy, triển khai rộng khắp ở mọi cấp độ. Đây cũng là một trong những lĩnh vực Việt Nam có thể phát huy để thể hiện vai trò thành viên tích cực, chủ động, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, đồng thời phục vụ các mục tiêu phát triển trong nước. Bài viết nhằm làm rõ chương trình nghị sự phụ nữ, hòa bình và an ninh từ góc độ lý luận và thực tiễn, qua đó gợi mở một số suy nghĩ về sự tham gia của Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả triển khai các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chính sách của Nhà nước về phụ nữ trong phát triển bền vững, hội nhập quốc tế và nâng tầm đối ngoại đa phương thời gian tới.
Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng, việc hiểu rõ Thỏa thuận trên cũng như đánh giá tình hình triển khai trên thực tế sẽ giúp xác định rõ hơn những vấn đề cần hoàn thiện trong công tác quản lý di cư quốc tế nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế, phát huy vai trò chủ động, tích cực của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác đa phương này, qua đó không ngừng nâng cao vị thế, uy tin quốc tế của đất nước.
Phát huy sức mạnh mềm là một nội hàm quan trọng làm nên thành công của đối ngoại Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và sự nghiệp Đổi mới gần 40 năm qua. Thực hiện chủ trương “phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của đất nước kết hợp với sức mạnh của thời đại” của Đại hội Đảng lần thứ XIII, công tác đối ngoại, đặc biệt là đối ngoại đa phương, đã tận dụng hiệu quả việc phát huy sức mạnh mềm Việt Nam, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển và nâng cao vị thế, uy tín đất nước. Để tiếp tục triển khai thắng lợi mục tiêu của Đại hội Đảng lần thứ XIII, Việt Nam cần tiếp tục phát huy vai trò của sức mạnh mềm, đặc biệt là trong công tác đối ngoại, để nâng cao hơn nữa thế và lực đất nước, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đến năm 2045.
Quá trình hình thành, phát triển của xã hội loài người và gia tăng tương tác giữa các cộng đồng, bộ lạc, quốc gia chứng kiến sự phát triển của hệ thống hình thái đại diện Nhà nước, từ các phái bộ có tính lâm thời, chủ yếu phục vụ mục đích chính trị, thành những cơ quan thường trú, có cơ cấu tổ chức, bộ máy, nhân sự được chuẩn hóa, chuyên nghiệp hóa với chức năng, nhiệm vụ đa dạng nhằm bảo vệ và thực thi lợi ích quốc gia bên ngoài lãnh thổ. Trong bài viết này, tác giả sẽ giới thiệu tổng quan về hệ thống các cơ quan đại diện (CQĐD) của Việt Nam ở nước ngoài, phân tích tác động của bối cảnh hiện nay đối với các CQĐD, từ đó đưa ra những đề xuất định hướng quá trình xây dựng chính sách phù hợp, nhằm đặt hệ thống CQĐD vào vị trí có thể đóng góp hiệu quả hơn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, cũng như xây dựng nền ngoại giao Việt Nam chuyên nghiệp, toàn diện, hiện đại.