Tổn thương thận cấp (AKI) là biến chứng thường gặp ở bệnh nhân ung thư, có thể gây gián đoạn điều trị và tăng nguy cơ nhập viện, tử vong. Tổng quan tường thuật này nhằm làm rõ dịch tễ, cơ chế, kiểu hình tổn thương, yếu tố nguy cơ, dự phòng và xử trí AKI liên quan thuốc điều trị ung thư toàn thân. Độc tính thận thay đổi theo từng nhóm thuốc: cisplatin chủ yếu gây tổn thương ống thận phụ thuộc liều; methotrexate liều cao gây bệnh thận do kết tinh; ifosfamide liên quan độc tính ống lượn gần và hội chứng Fanconi. Thuốc nhắm trúng đích có thể gây protein niệu, vi huyết khối mạch máu hoặc tăng creatinin giả, trong khi liệu pháp miễn dịch thường liên quan viêm kẽ thận cấp. Các biện pháp dự phòng quan trọng gồm phân tầng nguy cơ, tối ưu dịch – điện giải, hạn chế thuốc độc thận không cần thiết và theo dõi sớm chức năng thận. Nhận diện sớm cơ chế và kiểu hình AKI giúp cá thể hóa xử trí, duy trì điều trị và cải thiện kết cục lâm sàng.
Nghiên cứu đánh giá độc tính cấp và tác dụng cải thiện khả năng sinh sản của chế phẩm phối hợp chứa myo-inositol (S-FEMME) trên động vật thực nghiệm. Độc tính cấp được xác định trên chuột cống Wistar theo OECD 423. Tác dụng cải thiện sinh sản được đánh giá trên chuột nhắt cái Swiss trong 30 ngày. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm tỷ lệ mang thai, số lượng phôi làm tổ và nồng độ estrogen huyết thanh.
Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm S-Men lên sự phát triển thế hệ chuột F1 sinh ra từ chuột nhắt đực bị suy giảm sinh sản bởi natri valproat (NVP). Chuột đực trưởng thành chủng Swiss được gây mô hình bằng NVP liều 500 mg/kg/ngày, sau đó cho uống S-Men liều 1096 mg/kg/ngày và 2192 mg/kg/ngày trước khi ghép cặp với chuột cái khỏe mạnh. Các chỉ tiêu đánh giá trên thế hệ F1 gồm: tỷ lệ mang thai, tổng số thai, tỷ lệ thai sống/chết, số lượng chuột con, tỷ lệ sống và sự thay đổi trọng lượng sau sinh.
Viêm phổi là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi, trong đó kiến thức của người chăm sóc đóng vai trò quan trọng trong phát hiện và xử trí bệnh. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 119 bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc viêm phổi tại khoa Nhi – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, từ tháng 6 đến tháng 9/2025, nhằm mô tả kiến thức của bà mẹ về viêm phổi. Kết quả cho thấy 77,3% bà mẹ có kiến thức “ĐẠT”, cao nhất là kiến thức về bệnh viêm phổi (90,8%), tiếp đến là dự phòng (70,6%), và thấp nhất là chăm sóc trẻ mắc viêm phổi (52,9%). Tỷ lệ nhận biết đúng nguyên nhân, yếu tố nguy cơ, các dấu hiệu và triệu chứng thường gặp đều trên 90%, nhưng nhận biết dấu hiệu nặng như rút lõm lồng ngực còn thấp (69,7%). Khi trẻ có dấu hiệu bệnh, có 80,7% bà mẹ chọn đưa trẻ đến bệnh viện, 47,9% đến trạm y tế gần nhất và 28,6% đến phòng khám tư; trong khi 7,6% mua thuốc tại nhà thuốc và 0,8% để trẻ tự hết.
Nghiên cứu đánh giá tình trạng bệnh lý, mức độ hợp tác ban đầu và hiệu quả quản lý hành vi không dùng thuốc trong điều trị nha khoa ở trẻ 3 – 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Thiết kế tiến cứu mô tả trên 211 trẻ. Mức độ hợp tác ban đầu được đánh giá bằng thang Frankl, hành vi trong điều trị theo thang Houpt.
Đánh giá mối tương quan giữa kích thước khe niệu dục (urogenital hiatus – UGH) và mức độ sa tạng chậu ở phụ nữ trên cộng hưởng từ động sàn chậu, trên 80 bệnh nhân nữ được chẩn đoán sa tạng chậu và được thực hiện cộng hưởng từ động sàn chậu tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ 06/2023 đến 12/2025.
Medicell Plus Premium là chế phẩm bôi ngoài da chứa 11% dịch chiết nuôi cấy của tế bào gốc tủy xương, kết hợp với chiết xuất từ tế bào hoa nhung tuyết (Leontopodium alpinum), cùng nhiều peptid và collagen thủy phân. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả điều trị bỏng của Medicell Plus Premium trên mô hình bỏng nhiệt ở chuột cống trắng. Chuột được gây bỏng nhiệt trên da lưng bằng dụng cụ kim loại. Dexpanthenol và Medicell Plus Premium được bôi ngay sau khi gây bỏng và duy trì trong 21 ngày. Các chỉ số đánh giá bao gồm đặc điểm tổn thương tại chỗ, diện tích vết bỏng theo thời gian, hàm lượng hydroxyprolin trong mô da và đặc điểm mô bệnh học tại vị trí tổn thương.
Nghiên cứu hồi cứu mô tả 5 ca ghép gan trẻ em từ người hiến chết não (DDLT) tại Bệnh viện Nhi Trung ương (độ tuổi 8 - 48 tháng). Quá trình điều phối tạng ghi nhận thời gian thiếu máu lạnh dao động từ 40 phút đến 7 giờ. Để xử lý các biến thể phức tạp, phẫu thuật viên đã áp dụng cá thể hóa nhiều kỹ thuật chuyên sâu: cắt giảm thể tích mảnh ghép, xẻ chéo hoặc nối ngã ba tĩnh mạch cửa, khâu tạo hình trùm đa ống mật có đặt stent, thắt động mạch lách và đóng thành bụng trì hoãn. Kết quả sớm sau thời gian theo dõi trung bình 3,6 tháng ghi nhận không có rò mật hay huyết khối tĩnh mạch cửa; 1 trường hợp hẹp động mạch và thải ghép cấp sau 3 tháng đã can thiệp nội mạch và đang áp dụng phác đồ ức chế miễn dịch. Nghiên cứu bước đầu cho thấy tính khả thi và an toàn về mặt ngoại khoa của DDLT nhi khoa trong theo dõi ngắn hạn, cần có nghiên cứu với cỡ mẫu lớn và thời gian theo dõi dài hơn.
Động mạch tử cung là một nhánh của động mạch chậu trong, có đường đi đặc trưng trong dây chằng rộng, có sự phân nhánh phong phú và tiếp nối rộng với các mạch vùng chậu. U xơ tử cung là khối u lành tính thường gặp ở phụ nữ, được nuôi dưỡng bởi các nhánh của động mạch tử cung. Nút động mạch tử cung là một phương pháp điều trị ít xâm lấn và hiệu quả trong kiểm soát triệu chứng và làm giảm kích thước u xơ. Việc nắm vững giải phẫu động mạch tử cung trên hình ảnh chụp mạch giúp xác định chính xác các nhánh nuôi u, phát hiện các biến thể giải phẫu và các nguồn cấp máu phụ, từ đó nâng cao tỷ lệ thành công kỹ thuật đồng thời giảm thiểu biến chứng.
Khảo sát sự phân bố các orbital biên (HOMO và LUMO), giản đồ phân bố năng lượng tương ứng của các orbitals, giản đồ thế đẳng điện (electrostatic potential, ESP), mật độ trạng thái (density-of-states, DOS), giản đồ chênh lệch mật độ điện tử (charge densities difference maps, CDD), hàm định vị điện tử (electron localisation function, ELF), và mật độ trạng thái riêng phần (partial density-of-states, PDOS) của các orbital p của N và orbital d của ion Zn2+.