CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Nghiên cứu tính hiệu quả của phương pháp thuyết trình nhóm đối với kĩ năng nói của sinh viên tại một trường Đại học ở Việt Nam / Nghiêm Thị Thu Hà, Hoàng Thị Thanh Huyền // .- 2024 .- Số 10(359) .- Tr. 67-74 .- 400
Nghiên cứu này áp dụng phương pháp can thiệp xã hội học, so sánh giữa nhóm sinh viên được áp dụng phương pháp thuyết trình nhóm và nhóm không áp dụng phương pháp này. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, phương pháp thuyết trình nhóm đã có tác động tích cực đến kĩ năng nói của sinh viên. Cụ thể, các chỉ số như tần số phát âm sai trọng âm, tần số sử dụng từ không chính xác, tần số xuất hiện các câu phức, số lần ngắt quãng khi nói, tần số xuất hiện các từ nối và điểm kiểm tra tổng quát đều cho thấy sự cải thiện rõ rệt.
2 Phân tích vai trò của các từ ngữ mang sắc thái hình tượng trong quảng cáo tiếng Trung Quốc và tiếng Việt / Mai Thị Ngọc Anh, Phan Thị Huế // .- 2024 .- Số 10(359) .- Tr. 75-83 .- 400
Bài viết tiến hành phân tích vai trò của sắc thái hình tượng của từ ngữ trong quảng cáo tiếng Trung Quốc, đồng thời so sánh với cách biểu đạt tương đương trong tiếng Việt từ đó chỉ ra sự tương đồng và khác biệt trong cách biểu đạt của các từ ngữ chỉ sắc thái hình tượng trong quảng cáo giữa hai ngôn ngữ.
3 Tên dân gian tiếng Việt của các loại dược phẩm từ góc nhìn văn hoá học / Võ Thị Hằng Nga // .- 2024 .- Số 10(359) .- Tr. 98-105 .- 615
Nghiên cứu này trình bày hai phương thức chính mà khách hàng đã sử dụng để gọi tên dược phẩm ở các nhà thuốc tại Việt Nam là: (1) Gọi tên theo hình thức (hình dáng và cách phiên âm); (2) Gọi tên theo nội dung (công dụng, xuất xứ). Nguồn ngữ liệu được thu thập ngẫu nhiên từ 100 nhà thuốc ở miền Nam Việt Nam và từ các trang thông tin về ngành Dược trên Internet.
4 Ý niệm màu xanh trong thơ (khảo sát trong tác phẩm thơ của một số nhà thơ nữ Việt Nam) / Phạm Thị Hương Quỳnh // .- 2023 .- Số 10(359) .- Tr. 106-112 .- 400
Bài viết này tập trung tìm hiểu về ý niệm màu xanh thông qua khảo sát trong thơ của các nhà thơ nữ là Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Lâm Thị Mỹ Dạ, Ngân Giang. Kết quả khảo sát cho thấy có một ẩn dụ ý niệm tiêu biểu nhất là tuổi trẻ là màu xanh. Các nhà thơ nữ đã tri nhận về tuổi trẻ thông qua màu xanh ở trên hai phương diện là thời gian tuổi trẻ và tình yêu của tuổi trẻ. Sự tri nhận này rất điển hình cho cách tư duy của phụ nữ bởi vì những điều mà phụ nữ quan tâm nhất thường là tuổi trẻ và tình yêu.
5 Khẩu ngữ tự nhiên trong “tuyển tập Nam Cao” / Nguyễn Mạnh Tiến, Vương Lệ Linh Hằng // .- 2024 .- Số 10(359) .- Tr. 113-120 .- 400
Bài viết khảo sát cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ đặc trưng cho phong cách khẩu ngữ tự nhiên trong Tuyển tập Nam Cao nhằm làm rõ nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của tác giả. Bài viết đề cập cách sử dụng hai loại phương tiện ngôn ngữ đặc trưng cho phong cách khẩu ngữ tự nhiên trong Tuyển tập Nam Cao: cách sử dụng các từ ngữ (từ xưng hô, vị từ, phó từ, trợ từ, các từ được tạo ra từ sự biến đổi ngữ âm của từ đa phong cách, quán ngữ, thành ngữ) và cách sử dụng các kiểu câu lặp thành phần (câu lặp chủ ngữ, câu lặp vị ngữ, câu lặp bổ ngữ), những câu mở đầu bằng hư từ (mà, thì), câu mở đầu bằng từ ấy.
6 Hệ thống nhãn ngữ nghĩa thuật ngữ thân tộc tiếng Việt / Phan Thị Mỹ Trang, Đặng Ngọc Lệ, Đinh Điền, Trần Thị Minh Phượng // .- 2024 .- Số 12(362) .- Tr. 3-11 .- 400
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phương pháp phân tích - tổng hợp nhằm mô tả, phân loại và hệ thống các từ ngữ thân tộc tiếng Việt dựa trên cấu trúc phân cấp ý niệm và các mối quan hệ ngữ nghĩa như đồng nghĩa, đa nghĩa, thượng danh và hạ danh. Kết quả nghiên cứu mở ra tiềm năng ứng dụng trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, xử lí ngữ nghĩa tự động và nghiên cứu ngữ nghĩa học so sánh.
7 Phương thức biểu đạt tính lịch sự trong hành động ngôn từ nhờ vả bằng tiếng Hàn của người học Việt Nam (từ tư liệu thư điện tử/email) / Thân Thị Thúy Hiền // .- 2024 .- Số 12(362) .- Tr. 24-32 .- 495.7
Tự thân hành động ngôn từ nhờ vả có thể gây tổn thương thể diện của đối phương nên việc sử dụng hành động ngôn từ này của người bản ngữ cũng là cả một vấn đề. Nó đòi hỏi người nói cần phải sử dụng các chiến lược khác nhau để giảm thiểu đe dọa thể diện của đối tượng giao tiếp. Trong nghiên cứu này, chúng tôi cách biểu đạt tính lịch sự trong HĐNT nhờ vả vả bằng tiếng Hàn của người học Việt Nam học tiếng Hàn.
8 Phân tích kết cấu ngữ nghĩa của phương vị từ 上 trong tiếng Trung Quốc / Lưu Hớn Vũ // .- 2024 .- Số 12(362) .- Tr. 77-87 .- 495.1
Trên cơ sở nguồn ngữ liệu có quy mô khoảng 460.000 chữ, bài viết sử dụng phương pháp định lượng, thống kê, phân tích kết cấu ngữ nghĩa của phương vị từ 上 trong tiếng Trung Quốc. Kết quả cho thấy, phương vị từ 上 thường sử dụng với nghĩa không gian, ít sử dụng với nghĩa phi không gian. Trong nghĩa không gian, phương vị từ 上 thường sử dụng với vật mốc là loại không gian mặt. Trong nghĩa phi không gian, phương vị từ 上 thường sử dụng để ẩn dụ về phương diện góc độ.
9 Phương án trình bày biểu hiện bị động tập trung vào ý nghĩa và chức năng trong giáo trình tiếng Hàn / Lê Thu Phương, Ngô Thị Vân Anh // .- 2024 .- Số 12(362) .- Tr. 103-111 .- 495.7
Nghiên cứu này cho rằng, việc giảng dạy các biểu hiện bị động tập trung vào ý nghĩa và chức năng nên được thực hiện trong thực tế tại các cơ sở giáo dục, nhằm nâng cao năng lực ngữ pháp và khả năng tiếng Hàn của người học. Dựa trên phân tích về hình thức và chức năng của các biểu hiện bị động đã được đề cập trước đó, cũng như nội dung kiểm tra giáo trình tiếng Hàn, người viết đề xuất các phương án bổ sung nội dung biểu hiện bị động trong giáo trình tiếng Hàn.
10 Nghiên cứu mức độ nhạy cảm liên văn hóa của người Việt Nam học tiếng Hàn / Trần Thị Thu Phượng // .- 2024 .- Số 12(362) .- Tr. 112-119 .- 495.7
Nghiên cứu này dựa trên các nghiên cứu tiên quyết cho thấy rằng, những ai học ngoại ngữ có nhạy cảm với văn hóa nước ngoài thì sẽ nhanh chóng thích ứng với đặc điểm văn hóa đó. Sự nhạy cảm liên văn hóa chỉ ra khả năng phản ứng nhạy cảm với văn hóa khác và có thể hành xử một cách thích hợp. Bài viết tìm hiểu tính nhạy cảm văn hóa của người Việt học tiếng Hàn và đưa ra một số giải pháp để nâng cao tính nhạy cảm văn hóa của người Việt học tiếng Hàn.