Khám phá mối quan hệ giữa đổi mới sáng tạo, lợi thế cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh với vai trò tác động của việc thực hiện trách nhiệm xã hộị. Sử dụng bảng câu hỏi khảo sát, nghiên cứu đã thu thập dữ liệu đa nguồn với 378 phiếu từ 65 doanh nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô hình hóa đường dẫn bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS-SEM) để xem xét các giả thuyết nghiên cứu. Kết quả chỉ ra rằng tại các doanh nghiệp Việt Nam yếu tố trách nhiệm với nhân viên, trách nhiệm với khách hàng, trách nhiệm với nhà cung cấp, trách nhiệm với môi trường tác động đến đổi mới sáng tạo. Trong đó, trách nhiệm với khách hàng có tác động mạnh nhất. Đồng thời, đổi mới sáng tạo tác động thuận chiều với lợi thế cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh; lợi thế cạnh tranh có vai trò trung gian giữa đổi mới sáng tạo và hiệu quả kinh doanh tại các doanh nghiệp Việt Nam. Dựa trên những phát hiện này, các doanh nghiệp Việt Nam có thể điều chỉnh hoạt động kinh doanh của mình một cách hợp lý để đạt được hiệu quả hoạt động tốt hơn cũng như lợi thế cạnh tranh khi triển khai đổi mới sáng tạo để phát triển doanh nghiệp.
Nghiên cứu nhằm cung cấp bằng chứng về tác động của cấu trúc vốn đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Phân tích được thực hiện tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2012-2023. Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng tĩnh đã được sử dụng để thực hiện phân tích này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong một nền kinh tế mới nổi như Việt Nam, tỷ lệ nợ dài hạn như một thành phần của cấu trúc vốn có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Dựa trên kết quả của nghiên cứu này, các nhà quản trị doanh nghiệp được khuyến nghị sử dụng nhiều nợ dài hạn hơn trong cấu trúc vốn huy động để tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp bởi lẽ nợ dài hạn giúp gia tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai.
Khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng chatbot của người dùng. Một mô hình nghiên cứu được xác định dựa trên sự kết hợp niềm tin người dùng, hữu ích thông tin và cảm nhận thông minh với mô hình khả năng xây dựng thuyết phục (ELM). Dữ liệu được tập hợp từ 317 đáp viên đã trải nghiệm mua hàng trực tuyến và có xu hướng sử dụng chatbot để tìm kiếm thông tin sản phẩm. Mô hình cấu trúc tuyến tính được áp dụng để kiểm định các giả thuyết trong mô hình. Kết quả cho thấy hướng trung tâm (tính chính xác và sự phù hợp thông tin), hướng ngoại vi (tin cậy thông tin) và cảm nhận thông minh là các động lực tăng cường niềm tin người dùng và hữu ích thông tin với chatbot. Hơn nữa, niềm tin người dùng, hữu ích thông tin và cảm nhận thông minh ảnh hưởng đến ý định sử dụng chatbot. Bài viết này phát triển mô hình nghiên cứu về hành vi sử dụng dựa trên các đặc điểm thông tin và cảm nhận thông minh với chatbot. Cuối cùng, các hàm ý lý thuyết và thực tiễn được mang đến nhằm thúc đẩy hành vi sử dụng của người dùng với chatbot trong bán lẻ điện tử tại Việt Nam.
Tìm hiểu mối liên quan của tương hợp nhĩ trái - thất trái với chức năng nhĩ trái, chức năng tâm trương thất trái và đặc điểm tổn thương động mạch vành ở bệnh nhân hội chứng động mạch vành mạn. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 64 bệnh nhân có hội chứng động mạch vành mạn (HCĐMVM) nằm điều trị tại khoa Nội tim mạch và khoa Can thiệp tim mạch, bệnh viện Quân y 103 từ tháng 10/2024 đến tháng 04/2025. Các bệnh nhân được siêu âm tim đánh giá chức năng nhĩ trái, chức năng thất trái, tương hợp nhĩ trái - thất trái sau đó được chụp động mạch vành (ĐMV) qua da hoặc cắt lớp vi tính ĐMV (CCTA) theo chỉ định. Kết quả: Chỉ số tương hợp nhĩ trái - thất trái (LACI) tương quan nghịch với phân suất làm rỗng nhĩ trái toàn bộ (r = - 0,496, p < 0,001), phân suất làm rỗng nhĩ trái thụ động (r = - 0,392, p < 0,001) và phân suất làm rỗng chủ động (r = - 0,267, p < 0,05); tương quan thuận với thể tích nhĩ trái tối đa (r = 0,334, p < 0,01), tỉ lệ E/e' trung bình (r = 0,258, p < 0,05). Sự khác biệt của LACI ở các nhóm có số nhánh ĐMV tổn thương và mức độ tổn thương ĐMV khác nhau là chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Kết luận: Tương hợp nhĩ trái - thất trái tương quan nghịch với chức năng nhĩ trái, tương quan thuận với rối loạn chức năng tâm trương thất trái ở bệnh nhân HCĐMVM. Chưa thấy sự khác biệt của LACI giữa các nhóm bệnh nhân có số nhánh và mức độ tổn thương ĐMV khác nhau.
Xác định nồng độ vitamin D huyết thanh ở bệnh nhân viêm da tiết bã và mối liên quan giữa nồng độ này với mức độ nặng của bệnh. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, thực hiện trên 45 bệnh nhân viêm da tiết bã và 45 người chứng khỏe mạnh tại Bệnh viện Da Liễu TP.HCM. Nồng độ 25(OH)D được đo bằng phương pháp miễn dịch điện hóa phát quang (ECLIA). Mức độ nặng bệnh được đánh giá bằng thang điểm SDASI. Sử dụng kiểm định Mann–Whitney U, Chi bình phương và hệ số tương quan Spearman để phân tích thống kê. Kết quả: Nồng độ vitamin D huyết thanh trung vị ở nhóm bệnh là 21,9 ng/ml (IQR: 20,1–25,6), thấp hơn nhóm chứng (23,7 ng/ml; IQR: 21,4–29,5) một cách có ý nghĩa thống kê (p = 0,01). Tỷ lệ thiếu vitamin D (<20 ng/ml) ở nhóm bệnh là 24,4%, cao hơn nhóm chứng (8,9%) (p = 0,048). Có mối tương quan nghịch mức độ trung bình giữa nồng độ vitamin D và điểm SDASI (r = –0,4; p = 0,009). Bệnh nhân có nồng độ vitamin D <30 ng/ml có điểm SDASI trung bình cao hơn so với nhóm ≥30 ng/ml (p = 0,015). Kết luận: Bệnh nhân viêm da tiết bã có nồng độ vitamin D huyết thanh thấp hơn và tỷ lệ thiếu vitamin D cao hơn so với nhóm chứng khỏe mạnh. Nồng độ vitamin D có liên quan nghịch với mức độ nặng của bệnh, gợi ý vai trò tiềm năng của vitamin D trong bệnh sinh và diễn tiến lâm sàng của viêm da tiết bã.
Objectives: To describe the demands of home-based rehabilitation of children with disability in moving at Cam Le, Hai Chau and Hoa Vang district, Da Nang city. Subjects and Method: A cross-sectional descriptive study on 204 children with disability in moving at Cam Le, Hai Chau and Hoa Vang district, Da Nang city. Results: 89.2 percent children with disability in moving has different demands. The supports depends on types of demands such as 83.3 percent has demand for moving or walking, 70.1 percent for activities of daily living, 71.6 percent for familial and social participation. More than 50 percent children unable transfer by themselves and need partial or total supports for out of house to community.
Mô tả một số đặc điểm mô bệnh học và hoá mô miễn dịch (HMMD) của UTBM tuyến vú xâm nhập bộc lộ HER2 thấp. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 314 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán UTBM tuyến vú xâm nhập trên bệnh phẩm phẫu thuật tại bệnh viện K cơ sở Tân Triều từ tháng 8 năm 2023 đến tháng 8 năm 2024. Kết quả: UTBM tuyến vú xâm nhập bộc lộ HER2 thấp có típ mô bệnh học thường gặp nhất là UTBM xâm nhập, típ không đặc biệt (93,7%). Độ mô học thường gặp nhất là độ II (75,8%). Tỷ lệ xâm nhập mạch và xâm nhập quanh thần kinh lần lượt là 14,0% và 5,1%. Tỷ lệ di căn hạch là 33,4%. U thường có chỉ số tiên lượng Nottingham (NPI) trung bình, chiếm tỷ lệ 52,9%. Tỷ lệ ER và PR dương tính lần lượt là 90,4% và 86,4%. Tỷ lệ bộc lộ Ki-67 thấp và cao lần lượt là 40,8% và 59,2%. Phân típ phân tử Lòng ống B/HER2 âm tính hay gặp nhất với tỷ lệ 56,1%. Kết luận: UTBM tuyến vú xâm nhập bộc lộ HER2 thấp chủ yếu thuộc típ không đặc biệt, có độ mô học II, có thụ thể nội tiết dương tính và chỉ số Ki-67 cao. Những đặc điểm này tương ứng với đặc điểm của phân nhóm phân tử Lòng ống B, một nhóm có nguy cơ tái phát cao hơn sau điều trị nội tiết. Việc xác định chính xác tình trạng HER2 thấp là cực kỳ quan trọng, giúp mở ra lựa chọn điều trị có hiệu quả cao cho rất nhiều BN.
Objectives: Evaluating pregnancy rates in patients using GnRHa to launch mature ovum antagonist diagnosis at National hospital of obstetrics and gynecology. Materials and methods: A prospective study conducted in 112 women get ovarian stimulation - in vitro fertilization with GnRHa antagonist therapy in National hospital of obstetrics and gynecology from 01/2014 to 01/2015. Results: The result of using Dipherellin group, does not have any cases hyperstimulation syndrome ovarian than 3 cases out of 60 cases with hCG mature ovum. Even to meet normal ovarian stimulation (lower estradiol concentrations 4,000 pg/ml and number of follicles of 14 mm 15 capsules day hCG), mature ovum start with 5,000 IU hCG remains the standard dose risk caused ovary syndrome too heavy to be hospitalized treatment. Conclusion: the use of GnRHa ovarian stimulation cycle - in vitro fertilization by GnRHa antagonist regimens in women with normal ovarian response demonstrated benefits in improving pregnancy rates and limit the risk of ovarian hyperstimulation.
Mô tả đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị ở bệnh nhân sơ sinh và trẻ nhỏ có rối loạn chức năng tiểu tiện mức độ nặng. Đối tượng và phương pháp: Hồi cứu hồ sơ bệnh án của bệnh nhân chẩn đoán rối loạn chức năng tiểu tiện mức độ nặng từ năm 2017 – 4/2024 tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Tất cả bệnh nhân được hướng dẫn thông tiểu ngắt quãng sạch. Kết quả: Có 12 bệnh nhân trong đó 8 trường hợp (66,7%) là nữ, tuổi trung bình 7,5 tháng (2 ngày – 36 tháng); trong đó 10 bệnh nhân từ dưới 12 tháng tuổi bao gồm 4 trường hợp sơ sinh. Đa số biểu hiện nhiễm khuẩn đường tiết niệu có sốt 83,3% với số lần nhập viện trung bình là 2,6 lần (1-7 lần) và tất cả tồn dư nước tiểu sau khi đi tiểu. Tất cả bệnh nhân có giãn bể thận - niệu quản 2 bên, xơ hóa bàng quang. Có 58,3% trào ngược bàng quang – niệu quản. Có 2 bệnh nhân tự đi tiểu không cần thông tiểu ngắt quãng sạch, 3 bệnh nhân còn mở thông bàng quang, trường hợp khác tiếp tục thông tiểu. 75,0% hết giãn bể thận - niệu quản và 42,9% hết trào ngược bàng quang niệu quản. Có 58,4% các trường hợp bảo tồn chức năng thận bình thường. Kết luận: Nhận biết rối loạn chức năng tiểu tiện mức độ nặng sớm ở sơ sinh và trẻ nhỏ, theo dõi sát và chỉ định điều trị phù hợp giúp bảo tồn hệ tiết niệu trên và chức năng thận.
Trình bày tần suất và các yếu tố ảnh hưởng đến biến chứng sau phẫu thuật cắt gan. Đối tượng và phương pháp: Bao gồm 406 bệnh nhân được cắt gan tại Bệnh viện Trung ương Huế từ 01/2017-05/2025. Kết quả: Qua 406 bệnh nhân cắt gan thu được một số kết quả sau: Tuổi trung bình 61±11,9(30-80), tỷ lệ nam/nữ # 4:1. Cắt gan lớn so với cắt gan nhỏ tương ứng 52,5% và 47,5%, thời gian kẹp cuống gan toàn bộ (pringle manoeuvre) 42,5±17,3 (15-90) phút. Biến chứng chung sau phẫu thuật 50 (12,3%) bệnh nhân nghi nhận 71 biến chứng, trong đó, nhiễm trùng vết mổ 4,2%, rò mật 3,2%, abscess tồn dư 2,7%, suy tế bào gan 2,2%, cổ trướng kéo dài 2,2%, tràn dịch màng phổi 1,7%, chảy máu diện cắt gan 0,7% và tử vong sau phẫu thuật 0,7% bệnh nhân. Kết luận: Cắt gan lớn có liên quan đến suy gan sau phẫu thuật là một biến chứng có khả năng gây tử vong cao và hiện có rất ít lựa chọn điều trị hiệu quả. Việc lựa chọn bệnh nhân phù hợp và chuẩn bị tiền phẫu chu đáo đóng vai trò then chốt trong phòng ngừa biến chứng này. Biến chứng sau phẫu thuật cắt gan vẫn còn cao, nhiều nhất là nhiễm trùng vết mổ, tiếp theo là rò mật. Tuy nhiên, các biến chứng này không đe dọa nghiêm trọng tính mạn nhưng lại kéo dài thời gian điều trị của bệnh nhân.