Lịch sử 80 năm qua đã cho thấy trong những thắng lợi vĩ đại của đất nước, những chiến thắng trên chiến trường đều gắn liền với những thắng lợi trên bàn đàm phán. Nếu như chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử đã tạo thế cho những kết quả trên bàn đàm phán ở Hội nghị Geneva thì thắng lợi trong Hội nghị Paris đã góp phần quan trọng vào chiến thắng mùa xuân năm 1975 lịch sử. Những thắng lợi trên mặt trận ngoại giao trong giai đoạn này đã để lại những bài học vô giá, còn nguyên giá trị đến ngày nay.
Ngay từ sau giải phóng, Thành phố đã chủ động, tiên phong mở rộng hợp tác quốc tế, đặc biệt sôi động kể từ khi đất nước thực hiện Đổi mới, mở cửa. Qua các kỳ Đại hội Đảng bộ Thành phố, tư duy đối ngoại ngày càng phát triển, mở rộng cả về bề rộng lẫn chiều sâu, tạo nền tảng cho nhiều chương trình hợp tác chiến lược. Với sự nhạy bén, sáng tạo và tinh thần dám nghĩ, dám làm, công tác đối ngoại của Thành phố đã đạt nhiều thành tựu to lớn, góp phần quan trọng vào thành công của nền ngoại giao Việt Nam trong suốt 50 năm.
Công tác ngoại giao đã để lại nhiều bài học vô giá, còn nguyên giá trị. Việc tổng kết bài học kinh nghiệm rất quan trọng cho công tác đối ngoại của Việt Nam hiện nay. Có nhiều cách tiếp cận khi đúc kết bài học kinh nghiệm, song điều quan trọng là phải xuất phát từ thực tiễn. Bài viết phân tích, đánh giá chín bài học kinh nghiệm đúc kết từ thực tiễn ngoại giao Việt Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nước, trong đó có nhiều bài học đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát và đúc kết thành lý luận. Những bài học được rút ra có tầm sâu lý luận và giá trị tham khảo cho công tác đối ngoại hiện nay.
Trong những tháng đầu năm 2024, quan hệ hai bên nổi bật với các hợp đồng mua bán vũ khí và những thỏa thuận đào tạo nhân lực trong lĩnh vực quân sự. Mỹ coi Đài Loan là “đồng minh chiến lược” để ngăn chặn Trung Quốc bành trướng tại Biển Đông, trong khi đó, Đài Loan mong muốn củng cố vị thế và lợi ích của mình thông qua liên kết với Mỹ. Quan hệ giữa hai bên không chỉ ảnh hưởng đến khu vực, mà còn có tác động sâu rộng đến cán cân quyền lực toàn cầu trong những năm tiếp theo.
Trong khuôn khổ bài viết, tác giả sẽ làm rõ khái niệm vùng xám nói chung và các đặc điểm của chiến thuật vùng xám mà Trung Quốc áp dụng; soi chiếu vào thực tiễn triển khai ở khu vực Biển Đông, Hoa Đông và eo biển Đài Loan; và phân tích cách các bên liên quan như Phi-líp-pin, Nhật Bản, Đài Loan ứng phó với chiến thuật này để liên hệ chính sách tới Việt Nam.
Trong bối cảnh đó, Asean cần phát huy lợi thế, tăng cường tự chủ chiến lược, đoàn kết nội khối, thực hiện chính sách cân bằng, mềm dẻo, nhạy bén để nắm bắt cơ hội và hóa giải thách thức nhằm duy trì sự ổn định và phát huy vai trò trung tâm trong trật tự khu vực, góp phần xây dựng khu vực Đông Nam Á vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển và thịnh vượng với tầm nhìn ASEAN 2045 trong môi trường địa chính trị đầy biến động và rủi ro hiện nay.
Khủng hoảng tại Mi-an-ma bùng phát từ năm 2021 đến nay bắt nguồn từ những mâu thuẫn lịch sử về sắc tộc và chính trị, dẫn đến xung đột kéo dài giữa chính quyền quân sự và các lực lượng đối lập. Tình hình bất ổn đã gây ra những hệ lụy nghiêm trọng không chỉ ở trong nước, mà còn lan rộng ra các nước láng giềng. Cộng đồng quốc tế đã có những phản ứng khác nhau, từ các biện pháp trừng phạt của phương Tây đến cách tiếp cận thận trọng của các nước trong khu vực. ASEAN đã cố gắng đóng vai trò trung gian hòa giải nhưng kết quả đến nay còn hạn chế. Triển vọng giải quyết cuộc khủng hoảng vẫn đối mặt với nhiều thách thức, đòi hỏi nỗ lực của cả cộng đồng quốc tế và các bên liên quan.
Trong những tháng đầu năm 2024, quan hệ hai bên nổi bật với các hợp đồng mua bán vũ khí và những thỏa thuận đào tạo nhân lực trong lĩnh vực quân sự. Mỹ coi Đài Loan là “đồng minh chiến lược” để ngăn chặn Trung Quốc bành trướng tại Biển Đông, trong khi đó, Đài Loan mong muốn củng cố vị thế và lợi ích của mình thông qua liên kết với Mỹ. Quan hệ giữa hai bên không chỉ ảnh hưởng đến khu vực, mà còn có tác động sâu rộng đến cán cân quyền lực toàn cầu trong những năm tiếp theo.
Dựa trên khảo sát hơn 130 bài trả lời phỏng vấn báo chí quốc tế của Hồ Chí Minh, bài nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn, cụ thể là dựa vào mô hình của lý thuyết Phân tích đánh giá, để phân tích các thông điệp và cách thức sử dụng ngôn ngữ của Hồ Chí Minh trong trả lời báo chí quốc tế. Bài nghiên cứu nêu bật những thông điệp xuyên suốt qua các bài phỏng vấn, cũng như nghệ thuật trả lời phỏng vấn của Hồ Chí Minh, từ đó rút ra một số bài học tham khảo cho người làm công tác báo chí đối ngoại hiện nay.