Nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị chiến lược (KTQTCL) tại các doanh nghiệp (DN) bất động sản (BĐS) khu công nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, bao gồm: quy mô DN, cạnh tranh thị trường, chiến lược kinh doanh, ứng dụng công nghệ thông tin và năng lực kế toán. Kết quả thu thập dữ liệu và kiểm định hồi quy đa biến, với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS đã đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố trên đến việc vận dụng KTQTCL tại các DN BĐS khu công nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Bằng cách hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng, từ đó xác định khe hổng nghiên cứu của đề tài là căn cứ quan trọng để xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất về vận dụng KTQTCL tại các DN BĐS khu công nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các giả thuyết trong mô hình được chấp nhận. Đó là tác động trực tiếp, thuận chiều giữa sự tham gia dự toán ngân sách đến sự hài lòng trong công việc và sự cam kết tổ chức của các NQT DN Việt Nam. Và tác động gián tiếp của sự tham gia dự toán ngân sách đến kết quả công việc thông qua hai biến trung gian là sự hài lòng trong công việc và sự cam kết tổ chức. Nghiên cứu góp phần làm phong phú hơn về dòng nghiên cứu sự tham gia dự toán ngân sách dựa trên lý thuyết đại diện, lý thuyết tâm lý học và lý thuyết hiệu suất công việc tại quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đưa ra một số hàm ý quản lý cho các DN Việt Nam trong việc tăng cường hiệu quả công việc trong bối cảnh cạnh tranh như hiện nay.
Bài viết phân tích thực trạng chính sách hoàn Thuế GTGT đầu vào của HHDV xuất khẩu để nhận diện một số bất cập, từ đó đề xuất kiến nghị hoàn thiện chính sách trong thời gian tới.
Bằng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng, khảo sát 400 phiếu bảng hỏi với các cán bộ công chức thuế, sử dụng phần mềm SPSS 26 để phân tích. Kết quả cho thấy, có 5 nhân tố có ý nghĩa thống kê tác động thuận chiều đến nhân tố thực hành quản lý rủi ro tuân thủ thuế (MD), mức độ tác động từ cao đến thấp đó là: (i) Nhân tố thái độ; (ii) Nhân tố ngoại sinh (NS); (iii) Nhân tố nhận thức về tính hữu ích (HI); (iv) Nhân tố nhận thức về tính dễ sử dụng (SD) và (v) Nhân tố bối cảnh xã hội (XH). Từ kết quả nghiên cứu này, bài viết cũng đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao vai trò quản lý rủi ro tuân thủ thuế của công chức thuế Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, thực thi bộ tiêu chuẩn ESG trong hoạt động ngân hàng là một trong những xu hướng trên thế giới, góp phần đạt được mục tiêu phát triển bền vững trên toàn cầu. Tại Việt Nam, thực thi bộ tiêu chuẩn này có thể mang lại nhiều lợi ích cho ngân hàng, khách hàng của ngân hàng và đặc biệt là hướng đến mục tiêu phát triển bền vững ở phạm vi quốc gia. Mặc dù vậy, quá trình thực thi bộ tiêu chuẩn ESG ở các NHTM tại Việt Nam còn đang ở giai đoạn đầu và gặp phải nhiều thách thức lớn. Kết quả nghiên cứu này là cơ sở đáng tin cậy để Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và các NHTM nhận định rõ ràng hơn về vai trò của bộ tiêu chuẩn ESG đối với phát triển bền vững, cũng như xác định được các giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy việc thực thi bộ tiêu chuẩn này.
Bài viết này đánh giá thực trạng ngân hàng trong việc thực thi phát triển bền vững và công bố báo cáo ESG (môi trường, xã hội, quản trị), từ đó, đưa ra một số khuyến nghị điều chỉnh để hệ thống ngân hàng Việt Nam thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao trong hành trình thực hiện cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 của Việt Nam.
Tiêu chuẩn bền vững hiện được xem là một trong những vấn đề cấp bách nhất của thời đại. Ngày càng nhiều tổ chức tài chính áp dụng các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị (ESG: Environmental - Social - Governance) vào hoạt động thực tiễn của mình để hướng tới thông điệp chung tay vì sự phát triển bền vững. Theo nghiên cứu của Tổ chức DARA International, Việt Nam là quốc gia có thể chịu tổn thất khoảng 15 tỉ USD/năm do biến đổi khí hậu, tương đương khoảng 5% GDP. Việc áp dụng các tiêu chí ESG là giải pháp để ngành Ngân hàng góp phần thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, cũng như nâng cao uy tín, vị thế của mình cả trong nước và quốc tế.
Thời gian gần đây, phát triển bền vững và thực hành ESG (E - Environmental: Môi trường; S - Social: Xã hội và G - Governance: Quản trị) đang là một trong những trọng tâm, trụ cột ưu tiên hàng đầu của Chiến lược phát triển trung, dài hạn của các quốc gia, ngân hàng trên thế giới. Tại Việt Nam, Chính phủ và các bộ, ngành nói chung và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) nói riêng ngày càng quan tâm, triển khai nhiều hoạt động để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng xanh, bền vững. Trong xu hướng chung đó, nhu cầu phát triển xanh, bền vững và thực hành ESG đã được các doanh nghiệp tại Việt Nam, đặc biệt là các tổ chức tín dụng (TCTD) nhận thức và từng bước triển khai. Tuy nhiên, việc phát triển các hoạt động liên quan tại các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam còn nhiều khó khăn. Bài viết này nghiên cứu:(i) Bối cảnh, xu hướng phát triển ngân hàng xanh, bền vững và thực hành ESG trên thế giới và tại Việt Nam; (ii) Thực trạng thực thi ESG tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), nhận định những thuận lợi - khó khăn; từ đó (iii) Gợi mở một số đề xuất, kiến nghị đối với các cấp có thẩm quyền.
Bài viết đánh giá thực trạng cơ sở hạ tầng tài chính tín dụng xanh tại Việt Nam. Đối với hệ thống pháp luật, các quy định, định nghĩa cụ thể về các danh mục, ngành, lĩnh vực xanh vẫn chưa được thống nhất để có thể áp dụng chung trên cả nước. Lĩnh vực xanh hiện vẫn thiếu khung khổ pháp lí, các tiêu chí đánh giá công cụ đo lường tác động đến môi trường để hỗ trợ xây dựng chính sách, sản phẩm phát triển tín dụng xanh; các phương án kinh doanh cũng cần phải đáp ứng được các điều kiện khắt khe về bảo vệ môi trường, các thủ tục vay vốn phức tạp. Đối với nguồn lực và hệ thống giám sát thực thi, nhận thức và năng lực của các tổ chức tín dụng trong phát triển các sản phẩm tín dụng xanh mới ở bước đầu và còn hạn chế. Mô hình giám sát tài chính phân tán theo chuyên ngành nhưng thiếu sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các cơ quan trong mạng lưới an toàn tài chính, chưa có đầu mối mang tính tích hợp để giám sát toàn diện hoạt động của thị trường tài chính, theo dõi sự luân chuyển của dòng tiền, của các hoạt động đầu tư chéo, sở hữu chéo và các giao dịch ngân hàng ngầm.
Bài viết phân tích ảnh hưởng của công bố trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) lên hiệu quả tài chính (HQTC) của doanh nghiệp ở Việt Nam. Sử dụng dữ liệu của 83 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết ở Việt Nam, bài viết đóng góp một kênh mới để liên kết mối quan hệ này thông qua hồi quy Bayes. Kết quả cho thấy các doanh nghiệp có điểm công bố CSR cao hơn (thông qua điểm ESG) thì có HQTC lớn hơn. Cụ thể, điểm công bố CSR có tác động cùng chiều với xác suất cao đến ROA và tác động cùng chiều nhưng xác suất thấp hơn đối với ROE và Tobin’s Q. Bên cạnh đó, kết quả cho thấy ba thành phần của môi trường (E) – xã hội (S) – quản trị (G) cũng có ảnh hưởng cùng chiều lên ROA và ROE. Tuy nhiên, với chỉ tiêu Tobin’s Q, tác động riêng lẻ từng thành phần là không đồng bộ. Nhìn chung, các phát hiện của bài viết này cho thấy công bố CSR có tác động cùng chiều đến HQTC doanh nghiệp.