Nghiên cứu hành vi tiết kiệm cũng như cơ cấu chi tiêu của hộ gia đình Việt Nam khi có sốc về thu nhập tận dụng số liệu năm 2010-2012. Các phân tích cho thấy hành vi tiết kiệm chi tiêu của người dân Việt Nam nói chung là phù hợp với các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm về chủ đề này, trong đó khi thu nhập cao hơn thì người dân có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn. Bài viết cũng tìm ra một số điểm khác biệt quan trọng.
Nghiên cứu xác định được 6 nhân tố có ảnh hưởng đến sự hài lòng về công việc của nhân viên: (1) môi trường làm việc, (2) đồng nghiệp, (3) cơ hội đào tạo và thăng tiến, (4) thu nhập, (5) phúc lợi và (6) bản chất công việc. Với mẫu khảo sát 276 nhân viên, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhân viên chưa thật sự hài lòng với công việc hiện tại của họ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, nhân tố môi trường làm việc có ảnh hưởng lớn nhất tới mức độ hài lòng công việc của nhân viên. Mặc khác nhân tố ít có ảnh hưởng nhất là bản chất công việc. Qua đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao mức độ hài lòng với công việc của nhân viên.
Gợi ý cho các nhà quản lý doanh nghiệp trong ngành may và các ngành sản xuất tương tự cách thức và các giải pháp để có thể vận dụng thành công triết lý TOC vào công tác xác định kết cấu sản phẩm tối ưu; đồng thời cho thấy tác dụng của triết lý này đối với hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Bài viết nhằm đánh giá vị thế của hệ thống NHTM Việt Nam trong mối tương quan so sánh với hệ thống ngân hàng của các quốc gia ASEAN qua một số chỉ tiêu liên quan đến hoạt động ngân hàng.
Tiến hành phân tích năng lực tài chính của 3 NHTM lớn ở Việt Nam là Vietcombank, VietinBank và BIDV, so với các định chế tài chính mạnh trong khu vực Đông Nam Á. Từ đó, đề xuất một vài giải pháp, kiến nghị nhằm mục tiêu phát triển bền vững hệ thống NHTM VN trong bối cảnh hội nhập cộng đồng kinh tế AEC.
Lạm phát và quá trình kiểm soát lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2005 đến nay, những vấn đề hạn chế trong quá trình soát lạm phát của chính sách tiền tệ đến nay, một số gợi ý cho giai đoạn 2016-2020.
Bài viết nghiên cứu kinh nghiệm công nghiệp hóa nông thôn ở một số nước và vùng lãnh thổ Châu Á. Đài Loan và Trung Quốc được coi là hai nền kinh tế đạt được nhiều thành công trong công nghiệp hóa nông thôn. Thành công này có được là do Đài Loan và Trung Quốc đã thực hiện mô hình công nghiệp hóa nông thôn nội sinh – phát triển công nghiệp nông thôn bằng chính các doanh nghiệp ở nông thôn. Ngược lại, Thái Lan, Hàn Quốc và Philippines đã theo đuổi mô hình công nghiệp hóa nông thôn ngoại sinh, với kỳ vọng rằng sự phát triển của công nghiệp đô thị trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa sẽ lan tỏa tới khu vựng nông thôn và thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa nông thôn.
Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy đa biến với dữ liệu chéo với thủ tục ước lượng stepwise. Kết quả phân tích cho thấy các biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu ảnh hưởng vừa tích cực lẫn tiêu cực đến thu nhập nông nghiệp. Trong thời gian tới, việc thực hiện các biện pháp công trình và phi công trình với chi phí thấp cần được tiếp tục khuyến khích. Ngoài ra, cần tìm kiếm những cơ chế hiệu quả hơn để trợ giúp nông dân thích ứng như bảo hiểm nông nghiệp, hoặc nghiên cứu việc xây dựng các công trình kiên cố như làm đê bao, xây dựng kênh mương.