Trong những năm gần đây, Hà Nam là một trong những tỉnh thu hút đầu tư lớn vào các khu công nghiệp. Hiện nay, tỉnh Hà Nam có 8 khu công nghiệp đang hoạt động với tỷ lệ lấp đầy trên 80%. Song song với sự phát triển khu công nghiệp, đó là hài hoà trong quan hệ lợi ích giữa các chủ thể. Bài viết tập trung làm rõ thực trạng quan hệ lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động trong các khu công nghiệp ở tỉnh Hà Nam, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hài hoà quan hệ lợi ích giữa các chủ thể này.
Phát triển du lịch gắn với liên kết vùng là \chìa khóa vàng\ để các địa phương triển khai những sản phẩm du lịch độc đáo, tuyên truyền quảng bá và xúc tiến du lịch, huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chính sách đầu tư phát triển du lịch chung của vùng. Quảng Bình thuộc vùng Duyên hải Bắc Trung Bộ với nhiều lợi thế trong phát triển du lịch nhưng vẫn chưa thể phát huy hết những tiềm năng phát triển du lịch. Bài viết phân tích sự cần thiết của liên kết vùng trong phát triển du lịch, những thành công và hạn chế trong phát triển du lịch gắn với liên kết vùng từ đó, đề xuất một số giải pháp cho tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới.
Để xác định những yếu tố nào đang tác động đến sự hài lòng của nhân viên làm việc kháchsạn và mức độ tác động của các yếu tố đó, nghiên cứu này khảo sát thực tế lực lượng lao động đang làm việc tại các khách sạn từ 04 đến 05 sao tại TP. Đà Nẵng. Kết quả nghiêncứu chỉ ra các yếu tố tác động bao gồm: (1) Bản chất công việc; (2) Lãnh đạo; (3) Thu nhập, phúc lợi; (4) Cơ hội thăng tiến; (5) Tính đồng đội. Kết quả này có thể làm tài liệu tham khảo cho các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn, từ đó xây dựng các giải pháp, chiến lược trong quản trị và phát triển hoạt động kinh doanh khách sạn của doanh nghiệp mình.
Bài viết nghiên cứu tác động của COVID-19 đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghiên cứu đã đề xuất sử dụng kết hợp 2 phương pháp thẻ điểm cân bằng (BSC) và phân tích bao dữ liệu (DEA) làm cơ sở để lựa chọn các biến đầu vào và đầu ra với 5 biến được xác định là: Mức độ trang bị kỹ thuật/lao động, Chi nhân viên bình quân (đóng vai trò đầu vào), Thị phần tín dụng, % tăng lợi nhuận, % giảm tỷ lệ nợ xấu (đóng vai trò đầu ra). Bên cạnh đó, nghiên cứu còn kết hợp sử dụng chỉ số Malmquist để đo lường thay đổi hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn 2017-2022, giai đoạn trước và trong đại dịch COVID-19. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đại dịch này đã có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại trên địa bàn.
Nghiên cứu này thực hiện nhằm xác định và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán của các doanh nghiệp thương mại tại TP. Hồ Chí Minh. Nghiên cứu thực hiện phân tích 204 mẫu khảo sát tại các doanh nghiệp thương mại tại TP. Hồ Chí Minh thông qua phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng. Kỹ thuật phân tích bao gồm thống kê mô tả, kiểm tra độ tin cậy thang đo, phân tích EFA, hồi quy tuyến tính. Kết quả cho thấy, có 5 nhân tố có tác động tích cực đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán của các doanh nghiệp thương mại tại TP. Hồ Chí Minh, gồm: Nhận thức của nhà quản lý; Cơ cấu tổ chức; Trình độ nhân viên kế toán; Hệ thống kiểm soát nội bộ; Văn hóa tổ chức. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số chính sách nhằm nâng cao chất lượng hệ thống thông tin kế toán của các doanh nghiệp thương mại.
Nghiên cứu này tập trung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua hàng nhập khẩu của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh, đặc biệt là vai trò của yếu tố thuế. Nhóm tác giả đã tiến hành khảo sát bằng cách thu thập phiếu trả lời từ 448 cá nhân đang sinh sống và làm việc tại TP. Hồ Chí Minh, thường mua các hàng hóa nhập khẩu. Kết quả phân tích định lượng thông qua mô hình cấu trúc tuyến tính PLS-SEM bằng phần mềm SmartPLS cho thấy, sự hiện diện của các yếu tố, bao gồm: Nhận thức cá nhân, ý định mua hàng nhập khẩu, yếu tố nhân khẩu học và nguồn gốc xuất xứ, đều ảnh hưởng tích cực đến quyết định mua hàng nhập khẩu. Kết quả nghiên cứu là cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động tiêu dùng hàng hóa xuất nhập khẩu tại TP. Hồ Chí Minh hiện nay.
Nghiên cứu nhằm khám phá tác động gián tiếp của quản trị nguồn nhân lực (tiền lương, đánh giá thành tích, đào tạo và phát triển, tuyển dụng), lãnh đạo chuyển đổi, văn hoá doanh nghiệp vào hiệu quả công việc của nhân viên các doanh nghiệp du lịch ở TP. Hồ Chí Minh qua trung gian sự hài lòng công việc. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng phân tích cấu trúc của các nhóm nhân tố định tính gồm giới tính, độ tuổi, trình độ, thâm niên làm việc. Kết quả cho thấy, tất cả các giả thuyết đặt ra đều được chấp nhận.
Bài viết này nghiên cứu tác động của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp với tài sản thương hiệu (TSTH), bao gồm cả trực tiếp và gián tiếp cũng như vai trò điều tiết của sự cam kết của khách hàng (CKKH). Qua khảo sát với 510 khách hàng từ 25 tuổi trở lên, có thu nhập từ 25 triệu VND/tháng trở lên thường xuyên sử dụng dịch vụ khách sạn tại 20 khách sạn 4 sao và 5 sao tại TP. Hồ Chí Minh, bằng mô hình PLS-SEM. Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tích cực trực tiếp giữa trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và tài sản thương hiệu, đồng thời cũng khẳng định mối quan hệ trung gian tích cực của cam kết khách hàng và vai trò điều tiết của sự tham gia của khách hàng.
Bài viết nghiên cứu sự hài lòng của người tiêu dùng sản phẩm kẹo truyền thống trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Dựa trên nền lý thuyết hành vi người tiêu dùng, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu với 5 yếu tố: Hình ảnh thương hiệu; Chất lượng dịch vụ; Chất lượng sản phẩm; Giá cả; Hoạt động chiêu thị đến sự hài lòng khách hàng sử dụng sản phẩm kẹo truyền thống tại TP. Hồ Chí Minh. Sử dụng mô hình hồi quy, kết quả phân tích 293 khách hàng cá nhân sử dụng sản phẩm kẹo truyền thống tại TP. Hồ Chí Minh cho thấy, cả 5 yếu tố đều ảnh hưởng tích cực có ý nghĩa đến sự hài lòng khách hàng.
Nghiên cứu nhằm xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử Vietcombank - VCB Digibank của khách hàng cá nhân tại TP. Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 3 nhân tố gồm: Hình ảnh nhà cung cấp, Cảm nhận hữu ích, Cảm nhận dễ sử dụng có ảnh hưởng tích cực đến quyết định sử dụng VCB Digibank; 2 nhân tố có tác động tiêu cực gồm: Cảm nhận rủi ro và Cảm nhận về chi phí. Dựa trên kết quả ước lượng của mô hình nghiên cứu, nhóm tác giả đưa ra giải pháp góp phần thúc đẩy khách hàng quyết định sử dụng VCB Digibank.