Giới thiệu hướng dẫn tính toán từ biến về sự phân bố lại nội lực của một kết cấu cầu mở rộng. Để có những đánh giá sát chính xác hơn về dạng kết cấu này, bài báo đã phân tích ảnh hưởng của từ biến trên các chiều dài nhịp điển hình, với các trường hợp mở rộng dầm về mỗi bên cầu, cả hai bên cầu, mở rộng 1 dầm, 2 dầm, 3 dầm là những trường hợp đang được dùng phổ biến ở Việt Nam.
Trình bày phương trình vi phân dao động có cản của hệ số một bậc tự do và phương pháp thực nghiệm xác định hệ số giảm chấn của kết cấu cầu. Hệ số giảm chấn của một số kết cấu cầu đang khai thác tại Việt Nam được tính toán từ kết quả đo dao động (gia tốc) thực hiện trên các cầu này. Các hệ số giảm chấn này sẽ là thông số đầu vào quan trọng cho mô hình phân tích ứng xử động để đánh giá các hiệu ứng động lực học của các kết cấu cầu đó.
Giới thiệu kết quả nghiên cứu các đặc trưng cường độ nén và kéo uốn của các loại bê tông (bê tông có tỉ lệ nước-xi măng bằng 0,42 và 0,37) sử dụng phế thải đá mạt của các mỏ đá ở Đà Nẵng làm cốt liệu mịn (thay thế 25, 50, 75 và 100% cát sông) trong bê tông.
Từ một mô hình của các nhà khoa học Nhật Bản, bài viết trao đổi về cách tiếp cận trong việc giải quyết hai vấn đề: Toàn cầu hóa và xu thế phát triển của toàn cầu hóa; Những thách thức và điều kiện để hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu. Mục đích của bài viết nhằm làm rõ những thách thức của việc hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu và những chìa khóa để việc tìm ra giải pháp cho doanh nghiệp Việt Nam.
Giới thiệu những đặc trưng trong hệ thống STI của Hàn Quốc, mức đầu tư cho hệ thống STI, nhân lực khoa học và công nghệ trong hệ thống STI và bài học cho hệ thống STI của Việt Nam.
Trình bày các giải pháp căn bản và quan trọng hàng đầu được Chính phủ Nhật Bản tiến hành trong lộ trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao từ đầu thế kỷ XXI đến nay. Những giải pháp này không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới của đất nước mà còn khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao.
Xuất phát từ việc phân tích bối cảnh sản xuất kinh doanh, các nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao và và vai trò của nguồn nhân lực này đối với sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay, bài viết đã đưa ra những giải pháp thực tế, cần thiết để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong bối cảnh kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế.
Thông qua ngành du lịch biển vô cùng phát triển và nổi bật của Singapore, tác giả đã nêu ra những kinh nghiệm cũng như sự thành công trong việc hoạch định các chính sách phát triển ngành du lịch của Singapore.
Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng như hiện nay, vấn đề đặt ra đối với du lịch Việt Nam là phải xác lập cho mình những thế mạnh nhất định trên cơ sở nâng cao những lợi thế so sánh phát triển du lịch của mình song song với việc không ngừng tư duy, định vị những lợi thế so sánh quốc gia mới và tìm cách khắc phục những bất lợi của ngành. Chỉ bằng cách đó, ngành du lịch Việt Nam mới có thể phát triển trong dài hạn và bắt kịp với tốc độ phát triển của các quốc gia ngành du lịch tiến bộ hơn trong khu vực, từng bước đưa du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của cả nước.
Qua 5 năm triển khai thi hành, Luật Tố cáo năm 2011 đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Bên cạnh đó, Luật Tố cáo năm 2011 cũng phải có những sửa đổi, bổ sung nhằm đảm bảo sự phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Bài viết đánh giá thực trạng Luật Tố cáo năm 2011, đồng thời đề xuất kiến nghị, sửa đổi.