Giới thiệu một số kết quả nghiên cứu về trạng thái ứng suất, biến dạng, chuyển vị của tường chắn trong các trường hợp thành phần cấp phối khác nhau của đất nền đường dựa trên mô hình thí nghiệm và trên mô hình số.
Giới thiệu phương pháp tính toán xác định ảnh hưởng độ lớn của trục xe quá tải và áp suất bánh hơi đến chiều sâu hằn lún vệt bánh xe trên mặt đường bê tông Asphalt đường ô tô. Thông qua kết quả nghiên cứu, các tác giả đề xuất, kiến nghị một số giải pháp kiểm soát trục xe quá tải trong công tác quản lý khai thác mặt đường bê tông Asphalt ở nước ta hiện nay.
Giới thiệu ứng dụng công nghệ BIM (sử dụng phần mềm Revit) trong quá trình triển khai thiết kế và thi công để xử lý triệt để những xung đột bằng mô hình 3D trực quan trong kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị.
Phân tích thực trạng nguồn nhân lực và tình hình sử dụng y học cổ truyền, qua đó đưa ra những biện pháp kịp thời để cải thiện việc sử dụng y học cổ truyền trong hệ thống chăm sóc sức khỏe quốc gia.
Trình bày tóm tắt cách xây dựng công thức tính công suất của động cơ dẫn động máy trộn bê tông xi măng hai trục ngang ở hai giai đoạn: Trộn khô và trộn ướt, sử dụng công thức mới thu được để tính toán và so sánh giữa công suất lý thuyết với công suất thực tế trên một số máy trộn đang sử dụng phổ biến ở Việt Nam.
Trên cơ sở phân tích hiện trạng nguồn nhân lực ngành đường thủy nội địa, bài báo đưa ra 8 định hướng cơ bản trong việc xây dựng một chiến lược phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa của ngành.
Mô tả thực trạng viêm phổi thở máy tại phòng Hồi sức cấp cứu Viện Tim mạch – Bệnh viện Bạch Mai năm 2016, đồng thời xác định yếu tố liên quan đến viêm phổi thở máy và chăm sóc của điều dường.
Đánh giá tác dụng của điện châm và cứu kết hợp với thuốc y học cổ truyền điều trị bệnh tọa cốt thần kinh thống tại khoa Y học cổ truyền, Bệnh viện Đại học Y dược Thái Bình. Kết quả cho thấy: kết quả tốt ở nhóm nghiên cứu chiếm tỷ lệ rất cao (83,3%), tỷ lệ này cao hơn nhóm chứng với mức ý nghĩa thống kê với p<0,05. Kết quả kém ở nhóm nghiên cứu chiếm tỷ lệ thấp (5,6%), tỷ lệ này thấp hơn nhóm chứng với mức ý nghĩa thống kê với p<0,05.