Nghiên cứu xem xét các đặc tính của hội đồng quản trị (HĐQT) có ảnh hưởng thế nào đến sai sót trọng yếu (SSTY) trên báo cáo tài chính (BCTC) ở các doanh nghiệp (DN) niêm yết tại VN. vỚI 5 nhân tố thuộc đặc tính của HĐQT, đó là: Quy mô HĐQT, tỉ lệ thành viên không điều hành, số thành viên có quan hệ gia đình, thành viên HĐQT có chuyên môn tài chính và nhiệm kì của thành viên HĐQT không điều hành. Ngoài ra, tỉ số nợ cao cũng là dấu hiệu cảnh báo về SSTY trên BCTC.
Nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa quản trị công ty (QTCT), cấu trúc kim tự tháp (KTT), và giá trị doanh nghiệp (GTDN) tại VN. Tác giả sử dụng phương pháp ước lượng hồi quy cho dữ liệu bảng và giải quyết vấn đề nội sinh bằng phương pháp bình phương tối thiểu 2 giai đoạn (2SLS).Kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) Các biến số thông thường như quy mô hội đồng quản trị (HĐQT), tính độc lập của HĐQT chưa hẳn là biến số tốt để đại diện cho cách thức QTCT; (2) Việc sử dụng bộ chỉ số QTCT gồm 117 tiêu chí do Connelly và cộng sự (2012) xây dựng (chỉ số CGI) đã đại diện cho cách thức QTCT một cách toàn diện hơn; và (3) Phát hiện thú vị nhất của nghiên cứu này là cấu trúc KTT đóng một vai trò quan trọng trong mối quan hệ giữa QTCT và GTDN.
Xác định mối quan hệ giữa hành vi quá tự tin của giám đốc điều hành (CEO) với việc sử dụng nợ vay ở mức cao của 85 công ty niêm yết trên Thị trường Chứng khoán VN giai đoạn 2011–2014. Xác định khả năng CEO quá tự tin sử dụng tỉ lệ nợ cao gần gấp 3 lần khả năng CEO bình thường sử dụng tỉ lệ này. Các đặc tính khác của CEO được kiểm soát bao gồm: Độ tuổi cao, giới tính, bằng cấp, nền tảng kinh nghiệm, việc trải qua các biến cố lớn về kinh tế/chính trị trong cuộc đời.
Đánh gia và phân tích xu hướng hài hòa của chuẩn mực quốc tế về kế toán cũng như phương thức tiếp cận của các quốc gia trong khu vực ASEAN để nhìn nhận xu hướng cũng như những cách thức tiếp cận của các quốc gia này trong việc vận dụng vào từng điều kiện, đặc điểm riêng của quốc gia, nhằm đáp ứng với quá trình hội nhập chuẩn mực quốc tế về kế toán.
Đề cập đến quy trình nghiên cứu, đánh giá kiểm soát nội bộ (KSNB) trong cuộc kiểm toán báo cáo tài chính(BCTC) của ngân hàng thương mại (NHTM), nhằm giúp kiểm toán viên nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả công tác nghiên cứu, đánh giá KSNB nói riêng và cuộc kiểm toán BCTC NHTM nói chung.
Làm rõ tính độc lập của kiểm toán nội bộ (KTNB) cần được nhận thức như nào, có thể bị đe dọa bởi những guy cơ nào và đưa ra một số đề xuất, nhằm nâng cao tính độc lập, khách quan của KTNB trong các NHTM Việt Nam.
Trình bày hai phương pháp được sử dụng phổ biến hiện nay: Phương pháp lựa chọn nội dung kiểm toán định tính và phương pháp lựa chọn nội dung kiểm toán định lượng.
Thông qua nghiên cứu lý thuyết khuếch tán của những đổi mới, lý thuyết bất định, lý thuyết thể chế và tổng quan các công trình nghiên cứu trước, tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng áp dụng kế toán quản trị chi phí môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất thép tại Việt Nam.