CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Nồng độ Lipoprotein(a) và liên quan với mức độ tổn thương động mạch vành ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp được can thiệp động mạch vành qua da / Từ Huyến, Mai Long Thủy, Nguyễn Duy Khương // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 78-87 .- 610
Nghiên cứu tiến hành với mục tiêu mô tả nồng độ lipoprotein(a), các yếu tố liên quan và đánh giá vai trò của Lp(a) ở trong phân biệt mức độ tổn thương động mạch vành theo điểm Gensini. Thiết kế mô tả cắt ngang trên 80 bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa Ninh Thuận trong thời gian từ 7/2025 - 2/2026. Kết quả ghi nhận nồng độ Lp(a) trung vị 121,7 mg/dL. Nhóm bệnh nhân hạn chế vận động thể lực (154,4 so với 80,8 mg/dL), đái tháo đường (184,8 so với 91,7 mg/dL) và tiền sử nhồi máu cơ tim cũ (199,1 so với 105,0 mg/dL) có nồng độ Lp(a) cao hơn (p < 0,05). Phân tích ROC cho thấy Lp(a) giá trị tốt trong xác định tổn thương động mạch vành nặng, với diện tích dưới đường cong đạt 0,87 (KTC 95%: 0,79 - 0,96), phản ánh khả năng phân biệt cao với điểm cắt là 187,3 mg/dL, độ nhạy 72,0% và độ đặc hiệu 94,5%. Từ đó cho thấy Lp(a) càng cao gợi ý tổn thương động mạch vành càng nặng và có giá trị trong xác định tổn thương nặng động mạch vành.
2 Giá trị của procalcitonin huyết tương trong dự đoán cấy máu dương tính ở bệnh nhân ung thư nghi ngờ nhiễm khuẩn huyết / Hồ Quang Huy, Nguyễn Hải Linh, Bùi Trang Thơ, Nguyễn Thị Oanh // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 118-125 .- 610
Ở bệnh nhân ung thư, nguy cơ nhiễm khuẩn huyết tăng cao do suy giảm miễn dịch và các biện pháp can thiệp điều trị. Procalcitonin (PCT) là một dấu ấn sinh học đóng vai trò quan trọng trong dự đoán cấy máu dương tính ở bệnh nhân ung thư nghi ngờ nhiễm khuẩn huyết. Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 57 bệnh nhân nghi ngờ nhiễm khuẩn huyết có cấy máu dương tính và 65 bệnh nhân nghi ngờ nhiễm khuẩn huyết có cấy máu âm tính tại Bệnh viện K, nhằm xác định giá trị của PCT huyết tương trong dự đoán cấy máu dương tính ở bệnh nhân ung thư nghi ngờ nhiễm khuẩn huyết. Nồng độ PCT huyết tương được xác định bằng phương pháp miễn dịch điện hóa phát quang (ECLIA).
3 Giá trị của chỉ số tưới máu thận bán định lượng trên siêu âm doppler trong tiên lượng tình trạng tổn thương thận cấp kéo dài ở người bệnh sốc nhiễm trùng do viêm phúc mạc / Lê Đại Minh, Nguyễn Toàn Thắng, Vũ Đăng Lưu, Vũ Văn Khâm, Nguyễn Hữu Tú // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 126-136 .- 610
Nghiên cứu theo dõi dọc 58 người bệnh sốc nhiễm trùng do viêm phúc mạc tại Đơn vị Hồi sức Tích cực Ngoại khoa, Bệnh viện Bạch Mai. Mục tiêu nghiên cứu đánh giá giá trị của chỉ số tưới máu thận bán định lượng (PDU score) trong tiên lượng tổn thương thận cấp kéo dài.
4 Giá trị thang điểm P-POSSUM trong tiên lượng viêm phổi sau phẫu thuật ổ bụng tại Bệnh viện Bạch Mai / Nguyễn Minh Tuệ, Lê Đại Minh, Nguyễn Toàn Thắng // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 137-145 .- 610
Mô tả tỷ lệ viêm phổi sau phẫu thuật ổ bụng và đánh giá giá trị của thang điểm P-POSSUM trong tiên lượng biến chứng này. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu thuần tập tiến cứu trên 503 người bệnh phẫu thuật ổ bụng tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 12/2025 đến tháng 3/2026. Biến cố chính là viêm phổi sau phẫu thuật trong vòng 30 ngày. Giá trị tiên lượng của P-POSSUM được đánh giá bằng diện tích dưới đường cong ROC (AUROC), xác định ngưỡng cắt theo chỉ số Youden và phân tích hồi quy logistic đa biến.
5 Tỷ lệ và một số yếu tố liên quan đến suy tim phân suất tống máu giảm ở bệnh nhân nhiễm HIV đang điều trị ARV / Huỳnh Phe Rích, Trần Diệu Hiền, Trần Kim Sơn // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 146-154 .- 610
Tuổi thọ của bệnh nhân nhiễm HIV ngày càng được cải thiện nhờ điều trị kháng retrovirus (ARV), kéo theo sự gia tăng các biến chứng tim mạch, trong đó có suy tim phân suất tống máu giảm. Nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ và một số yếu tố liên quan đến suy tim phân suất tống máu giảm ở bệnh nhân nhiễm HIV. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 177 bệnh nhân ≥ 18 tuổi, đang điều trị ARV ít nhất 6 tháng tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ từ tháng 5/2025 đến tháng 5/2026.
6 Hiệu quả của tập luyện thân mình đa mặt phẳng với bài tập nhiệm vụ kép trong việc giảm sự bất cân xứng trọng lượng ở người bệnh đột quỵ nhồi máu não / Nguyễn Thị Huệ, Nguyễn Thị Thắm, Phạm Văn Minh // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 155-163 .- 610
Nghiên cứu đánh giá sự bất đối xứng trong việc chịu trọng lượng chi dưới (Percentage weight bearing asymmetry – PWBA), khả năng chịu trọng lượng bên liệt (Percentage weight on affected leg – PWA). Nghiên cứu tiến hành trên 66 bệnh nhân (BN) gồm nhóm thử nghiệm (N1) với 32 BN và nhóm chứng (N2) với 34 BN. BN được tập 8 tuần theo 2 chương trình khác nhau được đánh giá tại thời điểm bắt đầu (L0), 2 tuần (L1), 1 tháng (L2), 2 tháng (L3). Các chỉ số PWBA, PWA, FAC tại L2 và L3 có sự cải thiện ở cả 2 nhóm nhưng nhóm N1 cải thiện tốt hơn. Kết quả nghiên cứu cho thấy người bệnh nhồi máu não chịu trọng lượng không cân xứng và giảm khả năng khả năng dồn trọng lượng bên liệt. Chương trình tập luyện thân mình đa mặt phẳng kết hợp bài tập nhiệm vụ kép đã mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc cải thiện PWBA, PWA và FAC.
7 Đặc điểm suy giảm nhận thức ở người cao tuổi tại thành phố Hà Nội bằng thang MoCA / Đoàn Thị Huệ, Lê Thị Mỹ Linh, Nguyễn Văn Tuấn, Lê Thị Thu Hà // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 164-172 .- 610
Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả thực trạng suy giảm nhận thức và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại thành phố Hà Nội bằng thang MoCA, theo thiết kế mô tả cắt ngang trên 763 người từ 60 tuổi trở lên trong thời gian từ tháng 01/2024 đến tháng 01/2025. Tỷ lệ suy giảm nhận thức là 70,4%, trong đó suy giảm nhận thức mức độ nhẹ chiếm tỷ lệ cao nhất (46,1%). Điểm trung bình thang MoCA là 21,3 ± 6,3. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy nguy cơ suy giảm nhận thức cao hơn ở nữ giới, tăng rõ theo tuổi và cao hơn ở nhóm sống tại khu vực nông thôn. Trình độ học vấn cao có vai trò bảo vệ đối với suy giảm nhận thức. Các lĩnh vực nhận thức bị ảnh hưởng nhiều nhất là ghi nhớ có trì hoãn (90,8%) và thị giác không gian (81,9%), tiếp theo là khả năng tập trung chú ý, ngôn ngữ lưu loát và trừu tượng hóa. Trong khi đó, khả năng định hướng và gọi tên đồ vật là các lĩnh vực ít bị ảnh hưởng nhất.
8 Đặc điểm khớp cắn trên hệ thống T-Scan Novus ở nhóm sinh viên có dấu hiệu nghiến răng / Đinh Quang Chiến, Chử Tiến Mạnh, Nguyễn Thị Châu, Phạm Thùy Linh, Nguyễn Thị Thanh Huyền, Vũ Thị Quỳnh Hà, Hoàng Thị Thu Trang, Tạ Thị Tươi, Đinh Thị Minh Thúy, Nguyễn Ngọc Anh // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 173-181 .- 610
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 45 sinh viên lớp Y2RHM và Y3RHM tại Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt – Trường Đại học Y Hà Nội từ tháng 12/2023 đến tháng 01/2024 nhằm mô tả đặc điểm khớp cắn ở nhóm có dấu hiệu nghiến răng bằng hệ thống T-Scan Novus. Tỷ lệ sinh viên nam chiếm 42,2% và nữ chiếm 57,8%. Ở nhóm nghiến răng khi thức, hình thức siết chặt răng chiếm 68,4%; ở nhóm nghiến răng khi ngủ, cọ xát răng chiếm 96,0% và siết chặt răng chiếm 4,0%. Tại vị trí lồng múi tối đa, lực cắn phân bố chủ yếu ở vùng răng sau, trong đó trung vị lực cắn vùng răng hàm lớn hàm dưới và hàm trên lần lượt đạt 37,75% và 34,15%, trong khi vùng răng trước có giá trị thấp nhất. Răng hàm lớn thứ hai là răng được ghi nhận chịu lực cắn mạnh nhất ở tỷ lệ cao nhất (60,0% số trường hợp), tiếp theo là răng hàm lớn thứ nhất (35,56%) và răng hàm lớn thứ ba (4,44%). Thời gian ăn khớp trung bình là 0,93 ± 0,34 giây và thời gian nhả khớp trung bình là 0,78 giây.
9 Đánh giá đau lan tỏa, khuyết tật chức năng và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân gút / Trần Thị Thu Phương, Nguyễn Thị Phương Thủy // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 182-190 .- 610
Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 81 bệnh nhân gút cấp và mạn tính được chẩn đoán theo tiêu chuẩn ACR/EULAR 2015, điều trị tại Trung tâm Cơ Xương Khớp, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 10/2025 đến tháng 4/2026. Kết quả cho thấy, tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 53,7 ± 15,3; 91,4% nam giới, chỉ số khuyết tật chức năng trung vị là 0,875 (IQR: 0,375 – 1,25). Có 20/81 bệnh nhân xuất hiện tình trạng tăng nhạy cảm đau lan tỏa theo bộ câu hỏi Generalized Pain Questionnaire, chiếm tỷ lệ 24,7%. Trong nhóm bệnh nhân có đau lan tỏa, các triệu chứng gặp phổ biến nhất gồm đau khi có kích thích nhẹ trên bề mặt da (100%), đau sau ma sát (95%), đau kéo dài sau khi kích thích đã chấm dứt (100%) và cảm giác đau dữ dội hơn bình thường khi tiếp xúc với kích thích (100%). Phân tích hồi quy logistic đa biến, mô hình đạt chỉ số AUC là 0,943; p < 0,001; 95% CI: 0,892 – 0,995, mức độ đau khớp theo VAS và nồng độ acid uric trong huyết thanh được xác định là các yếu tố dự báo độc lập với tình trạng đau lan tỏa, trong đó điểm đau khớp theo VAS có vai trò nổi bật (p = 0,006), OR = 8,132 (95% CI: 1,818 – 36,37).
10 Đánh giá độc tính của siro Liver Zen trên động vật thực nghiệm / Đậu Thùy Dương, Phạm Thị Vân Anh, Lê Quốc Kỳ // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 191-199 .- 610
Siro Liver Zen là sản phẩm được bào chế từ các dược liệu, với mục đích sử dụng dự kiến để hỗ trợ điều trị các bệnh lý gan như viêm gan và rối loạn chức năng gan. Nghiên cứu này nhằm đánh giá độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của siro Liver Zen trên chuột nhắt trắng chủng Swiss. Trong thử nghiệm độc tính cấp, chuột được cho uống siro với các mức liều tăng dần để xác định giới hạn an toàn.