Nghiên cứu này trình bày một phương pháp phân tích và dự đoán phản ứng của công trình đã bị hư hại sau động đất khi đối mặt với các trận động đất trong tương lai. Phương pháp đề xuất dựa trên mô hình tương đương một bậc tự do (SDOF), được xây dựng hoàn toàn từ dữ liệu gia tốc được đo tại các tầng của công trình, dựa trên phương pháp xây dựng đường cong khả năng từ dữ liệu gia tốc được phát triển Kusunoki et al., và xây dựng mô hình tương đương SDOF được đề xuất bởi Pham et al.
Bài báo này tập trung khảo sát sự phân bố áp suất của sóng xung kích lan truyền trong đường hầm và khu vực có biến đổi tiết diện, thông qua việc sử dụng phần mềm Ansys Autodyn 3D. Kết quả mô phỏng thu được sẽ được so sánh với kết quả tính toán theo công thức thực nghiệm. Các thử nghiệm số cho thấy sự chênh lệch giữa hai phương pháp nằm trong khoảng từ 3% đến 33%, một mức sai số có thể chấp nhận được trong nghiên cứu sự lan truyền sóng xung kích.
Nghiên cứu này tập trung đánh giá khả năng sử dụng quặng sắt ilmenite và bột barite kết hợp với xi măng Portland, và phụ gia khoáng hóa hoạt tính nhằm chế tạo bê tông hạt mịn siêu nặng cản xạ. Kết quả thí nghiệm cho thấy hỗn hợp bê tông có tính công tác tốt, khối lượng thể tích đạt trên 3,3 tấn/m³ và cường độ nén trung bình từ 50 đến 70 MPa sau 28 ngày dưỡng hộ.
Trình bày nghiên cứu xác định hàm lượng phụ gia tối ưu, ảnh hưởng của phụ gia đến các tính chất cơ lý của vữa và so sánh hiệu quả chống thấm của vữa bổ sung phụ gia với vữa truyền thống. Kết quả của nghiên cứu này sẽ cung cấp cơ sở khoa học để ứng dụng rộng rãi phụ gia polime trong sản xuất vữa xây tô, góp phần nâng cao chất lượng công trình xây dựng.
Dựa trên quy định quy phạm của Trung Quốc để giới thiệu một số giải pháp trắc địa trong thi công và quan trắc đường sắt cao tốc khi phải đào hầm xuyên núi đảm bảo an toàn khi chạy tàu.
Phân tích tổng hợp của ba yếu tố trên làm rõ sự thay đổi điều kiện bão hòa, áp lực nước lỗ rỗng, hệ số thấm, từ đó làm giảm ổn định mái dốc và kích hoạt trượt lở. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học quan trọng nhằm hiểu rõ cơ chế phát sinh trượt lở và góp phần nâng cao hiệu quả cảnh báo và phòng tránh.
Khảo sát ảnh hưởng của kích thước mẫu đến cường độ chịu cắt của đất cao lanh đầm chặt. Các thí nghiệm cắt trực tiếp được thực hiện trên mẫu đất bão hòa nước với các kích thước 10 × 10 × 2 cm và 6 × 6 × 2 cm dưới tác dụng của ứng suất nén là 50, 100 và 200 kPa.
Đánh giá tỷ lệ mất lực mô-men xoắn của vít phục hình trên Multi-unit abutment (MUA) với các góc nghiêng khác nhau (0°, 17°, 30°) trước và sau khi tải lực trong phục hình All-on-Four hàm dưới. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu in vitro trên 3 mẫu hàm acrylic toàn hàm hàm dưới không răng (mật độ xương D2–D3). Mỗi mẫu gồm 4 implant Osstem TSIII, trong đó 2 implant vùng răng trước dùng MUA 0°, 2 implant vùng răng sau sử dụng MUA có góc nghiêng 0°, 17° hoặc 30° theo từng nhóm. Phục hình toàn hàm được thiết kế bằng phần mềm Exocad, chế tác từ nhựa PMMA bằng CAD/CAM và cố định với lực siết 20 Ncm trên MUA. Lực mô-men xoắn tháo vít được đo trước và sau tải lực mô phỏng. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm JASP 0.17.2.1. Kết quả: Sau khi tải lực, lực mô-men xoắn giảm rõ rệt ở cả ba nhóm. Tỷ lệ mất mô-men xoắn sau tải lực (%Rp) tăng theo góc nghiêng MUA, lần lượt là 6.19% (0°), 9.68% (17°), và 16.1% (30°). Phân tích thống kê cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa giữa nhóm 0° và 30° (p = 0.001), trong khi nhóm 0° và 17° cũng như 17° và 30° không khác biệt đáng kể (p > 0.05). Tỷ lệ mất mô-men xoắn trung bình (%R’) cũng tăng theo độ nghiêng abutment, với sự khác biệt đáng kể giữa nhóm 0° và 30° (p = 0.001). Kết luận: Góc nghiêng MUA ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ mất lực mô-men xoắn sau khi tải lực. MUA nghiêng 30° làm tăng nguy cơ lỏng vít phục hình trong phục hình All-on-four hàm dưới.
Khảo sát các đặc điểm hỗ trợ dinh dưỡng và xác định kết cục cũng như các yếu tố liên quan đến tăng trưởng ở trẻ sơ sinh được hồi sức sau phẫu thuật đường tiêu hóa tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Kết quả: Nghiên cứu cắt ngang từ 2/2024 đến 9/2024 tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Có 61 trẻ sơ sinh thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu trong thời gian thực hiện nghiên cứu. Khi xuất khoa, số trẻ chậm tăng trưởng ngoài tử cung chiếm tỉ lệ cao với 42 bệnh nhi (68,9%). Trong khi ở thời điểm lúc sinh, nhóm nhẹ cân so với tuổi thai chỉ chiếm 16 ca (26,2%). Trong số 61 ca, có 6 bệnh nhân (9,8%) tử vong. Kết luận: Tỉ lệ chậm tăng trưởng ngoài tử cung khi xuất khoa của trẻ sơ sinh được hồi sức hậu phẫu đường tiêu hóa còn rất cao với 42 bệnh nhi (68,9%). Từ đó thấy rằng dinh dưỡng ở nhóm đối tượng này cần được quan tâm sâu sắc. Cần có chiến lược điều trị và đánh giá dinh dưỡng thích hợp để giảm tỉ lệ chậm tăng trưởng ngoài tử cung. Ngoài ra, cần xác định các yếu tố nguy cơ để phát triển các chiến lược điều trị cũng như tiên lượng cho nhóm đối tượng này.