Nêu tình hình sưu tầm, nghiên cứu truyện cổ Lâm Đồng trước 1975, tình hình sưu tầm nghiên cứu truyện cổ Lâm Đồng sau 1975 và một số kết quả nghiên cứu truyện cổ Tây Nguyên ở Đại học Đà Lạt.
Tập trung thể hiện rõ tư tưởng Lão – Trang đã ảnh hưởng đến tư tưởng sáng tác của Nguyễn Công Trứ như thế nào qua hai đề tài nhàn lạc và vịnh sử trong thơ văn của ông.
Phân tích diễn ngôn từ một số đường hướng nghiên cứu như: đường hướng nghiên cứu văn học, đường hướng triết học, đường hướng ngôn ngữ học, đường hướng nghiên cứu hội thoại.
Trình bày các nội dung: Thuật ngữ “ phong trào tiền phong”, những quan niệm về chủ nghĩa tiền phong, chủ nghĩa tiền phong trong sự đối sánh với chủ nghĩa hiện đại, chủ nghĩa tiền phong trong văn học nghệ thuật.
Tập trung một số tác phẩm hồi ký, tự truyện sau 1975 của các tác giả được dư luận quan tâm, được giới phê bình đánh giá cao. Qua đó, người đọc thấy khuynh hướng vận động, tương tác của các thể loại văn học cũng như ý thức sáng tạo không ngừng của các nhà văn đương đại.
Tìm phương án khả thi, góp phần tháo gỡ các vương mắc nêu trên. Mục tiêu và phương pháp tiếp cận vấn đề gần như đã được định hướng khá rõ trong nhan đề: nhận diện trường ca hiện đại Việt Nam như một thể loại/ bộ phận trong hình thức “thơ dài” hiện đại Việt Nam (hình thức “thơ dài” ở đây được dùng như một khái niệm chỉ tổng loại), đồng thời, đề xuất một số phương án phân loại trường ca “từ góc nhìn tương tác thể loại”.
Thông qua việc mô hình hóa, so sánh cơ chế hình thành và chuyển nghĩa của điển cố ẩn dụ và hoán dụ, có thể thấy rằng điển cố có những điểm khác biệt đáng chú ý về tính tu từ. Sử dụng điển cố không chỉ đơn giản là nhằm làm gia tăng sắc thái tạo hình, biểu cảm cho lời văn nghệ thuật như ẩn dụ hoán dụ mà quan trọng hơn ở chỗ thể hiện tính chất hàm súc, cao nhã, quy phạm của văn chương bác học thời trung đại.
Thông qua việc tìm hiểu, phân tích những lời bình điểm trong các tác phẩm phê bình của Kim Thánh Thán, bài viết hướng tới mục đích khảo sát những nét đặc sắc trong cách phê bình nghệ thuật sử dụng ngôn từ của ông ở các cấp độ tự pháp, cú pháp và chương pháp.
Trong những năm qua, AQUATOX đã được nhiều nước áp dụng như một công cụ quản lý chất lượng nước sông, suối, hồ, chứa. Tại Việt Nam, mô hình AQUATOX gần như chưa được áp dụng. Vì vậy, đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên áp dụng mô hình AQUATOX để đánh giá tương tác các yếu tố môi trường và sinh vật trong hồ chứa ở Cao Nguyên Việt Nam. Từ kết quả đó, các kịch bản cải thiện chất lượng nước được mô phỏng làm cơ sở cho việc đề xuất và quyết định giải pháp trong quản lý chất lượng nước.