CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Polyp cholesterol túi mật ung thư hóa - báo cáo ca bệnh hiếm gặp / Đặng Đức Thịnh, Trần Ngọc Minh, Ân Thị Thùy Ngân // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 304 - 310 .- 610
Polyp cholesterol được coi là tổn thương dạng polyp của tình trạng dư thừa cholesterol, đặc trưng bởi sự tích tụ các đại thực bào bọt ăn lipid trong mô đệm niêm mạc túi mật. Theo y văn, đây là polyp thường gặp nhất của túi mật, không có tính chất u và là tổn thương lành tính. Trong báo cáo này chúng tôi ghi nhận một trường hợp hiếm gặp ung thư hóa của polyp cholesterol túi mật. Người bệnh nữ, 71 tuổi, tiền sử đái tháo đường điều trị thường xuyên, đã phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp, có biểu hiện đau bụng âm ỉ hạ sườn phải trong nhiều tháng. Siêu âm ổ bụng phát hiện phía đáy túi mật có đám tổ chức đồng âm với nhu mô gan kích thước 26x14 mm cần phân biệt giữa bùn mật hoặc u. Kết quả cộng hưởng từ cho đó là sỏi bùn túi mật. Người bệnh tiếp theo được mổ cắt túi mật nội soi. Trên đại thể, túi mật nhận được có tổn thương polyp dạng súp lơ, chiếm diện tích khoảng 30x20 mm, chỗ dày nhất khoảng 10 mm, màu vàng xám, mật độ mềm. Hình ảnh vi thể tương ứng là một polyp cholesterol giàu đại thực bào bọt kèm phản ứng viêm mạn tính hoạt động. Tuy nhiên, nhiều vùng biểu mô phủ và tuyến của polyp có hình ảnh biến đổi loạn sản độ thấp xen lẫn loạn sản độ cao tương đương ung thư biểu mô tại chỗ. Không thấy hình ảnh xâm nhập. Ngoài ra, niêm mạc túi mật lân cận cũng có phản ứng viêm mạn tính hoạt động kèm rải rác các ổ dị sản ruột, loạn sản độ cao. Chẩn đoán mô bệnh học được đưa ra là polyp cholesterol túi mật có loạn sản biểu mô đường mật độ cao tương đương ung thư biểu mô đường mật tại chỗ.
2 Đánh giá tỉ lệ mô đệm u và mối liên quan với đặc điểm giải phẫu bệnh ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng / Trương Đình Tiến, Đặng Sơn Tùng, Nguyễn Thu Hiền // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 498 - 504 .- 610
Đánh giá tỉ lệ mô đệm u và mối liên quan với các đặc điểm giải phẫu bệnh (GPB) ở bệnh nhân (BN) ung thư đại trực tràng (UTĐTT). Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thực hiện trên 112 BN UTĐTT, được phẫu thuật tại Bệnh viện Quân Y 103. Bệnh phẩm được xử lý theo quy trình xét nghiệm GPB thường quy. Đánh giá tỉ lệ mô đệm u trên tiêu bản nhuộm Hematoxylin-Eosin (HE) và xác định mối liên quan với các đặc điểm GPB. Kết quả: 27,7% BN có tỉ lệ mô đệm u cao, có mối liên quan giữa tỉ lệ mô đệm u cao với các đặc điểm u xâm lấn sâu, có di căn hạch, có xâm nhập mạch và xâm nhập thần kinh. Kết luận: Tỉ lệ mô đệm u cao là yếu tố tiên lượng kém ở BN UTĐTT.
3 Nghiên cứu phát hiện methyl hóa gen SEPT9 Ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng bằng phương pháp semi – nested PCR phân tích phổ tuyến tính / Dương Thùy Linh, Nguyễn Văn Ba, Hồ Hữu Thọ // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 488 - 497 .- 610
Methyl hóa gen SEPT9 được FDA công nhận và sử dụng là dấu ấn sinh học xét nghiệm bằng máu ngoại vi đầu tiên trong sàng lọc UTĐTT vào năm 2016, ngày càng phát triển nhiều kĩ thuật xét nghiệm để tối ưu hóa đạt được độ nhạy, độ đặc hiệu cao. Hiện nay, phương pháp phát hiện DNA bị methyl hóa của gen SEPT9 đang áp dụng rộng rãi là bộ kit Epi proColon® 2.0 dựa trên phương pháp HeavyMethyl, có giá thành cao và nhiều nghiên cứu chỉ ra độ nhạy còn hạn chế. Nghiên cứu của chúng tôi nhằm đánh giá độ nhạy, độ đặc hiệu phát hiện mSEPT9 với phương pháp mới dựa trên semi – nested PCR phổ tuyến tính ở bệnh nhân UTĐTT. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, tiến cứu trên nhóm 50 người khỏe mạnh, 46 bệnh nhân UTĐTT được xét nghiệm mSEPT9 bằng phương pháp mới dựa trên semi – nested PCR phổ tuyến tính. Kết quả: Phương pháp xét nghiệm mới đã đạt được độ nhạy 73,91% và độ đặc hiệu là 80% cho thấy khả năng phát hiện hiệu quả DNA bị methyl hóa, với kĩ thuật mới sử dụng ExBP một cách sáng tạo mà không cần các đầu dò được sửa đổi tốn kém giúp đơn giản hóa việc thiết lập xét nghiệm và giảm tổng chi phí, tăng cường khả năng xét nghiệm trong các điều kiện khác nhau. Kết luận: Với kỹ thuật xét nghiệm mới này cải thiện đáng kể khả năng phát hiện mSEPT9 mang lại bước tiến tiềm năng trong sàng lọc và theo dõi UTĐTT. Các nghiên cứu lớn hơn trong tương lai được khuyến khích để xác nhận lợi ích lâm sàng của xét nghiệm này.
4 U trung mạc biệt hóa cao dạng nhú chẩn đoán hồi cứu trong 10 năm 2013 – 2023 / Nguyễn Sơn Lam // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- 1859-1868 Y học Việt Nam (Điện tử) Số CD1 .- Tr. 505 - 512 .- 610
Khảo sát các yếu tố giải phẫu bệnh các u trung mạc biệt hóa cao dạng nhú. Khảo sát một số yếu tố về lâm sàng, hình ảnh học và điều trị của loại u trung mạc biệt hóa cao dạng nhú Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tất cả các bệnh nhân (BN) được chẩn đoán u trung mạc biệt hóa cao dạng nhú (Well differentiated papillary mesothelial tumor) sau khi chẩn đoán hồi cứu 387 ca u trung mạc màng phổi nhập viện Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch trong 10 năm (01/01/2013 - 01/01/2023). Hồi cứu, thống kê mô tả, loạt ca bệnh: U trung mạc biệt hóa cao dạng nhú. Sử dụng phần mềm MS Excel 2013, phép kiểm T-Test, với giá trị xác định ý nghĩa thống kê < 0,05. Chẩn đoán giải phẫu bệnh và hóa mô miễn dịch với các phương pháp nhuộm: HE thường qui, hóa mô miễn dịch: D2-40, Calretinin, WT-1, Mesothelin, CK 5/6, BAP1, L1CAM, MTAP, CK7, TTF-1, CEA, BER-EP4. Kết quả: Tổng số ca hồi cứu sàng lọc: 387 ca u trung mạc màng phổi, tổng số 19 ca CĐ sau cùng: u trung mạc biệt hóa cao dạng nhú (4,91%). Giới tính: Nam: 6 ca (31,58%) - Nữ: 13 ca (68,42%). Tuổi trung bình: 41,79 ± 5,83 tuổi (Thấp nhất: 31 tuổi - Cao nhất: 52 tuổi). Phát hiện thể amiante trong dịch rửa phế quản phế nang: 3 ca/19 ca (15,79%). Tiền sử có tiếp xúc với amiante: 11 ca/19 ca (57,89%). Tình trạng hút thuốc lá: 6 ca/19 ca (31,58%). Kết quả điều trị: 6 ca khỏi bệnh hoàn toàn (không tái phát tiến triển theo dõi # 10 năm); 3 ca tái phát tại vị trí khác được xử trí: Hóa trị và làm dày dính màng phổi, sau đó theo dõi đến 31/12/2023 không bị tái phát lại. Có 10 ca tái phát tiến triển chuyển dạng thành u trung mạc ác tính dạng biểu mô, được xử trí: Hóa trị bộ đôi platinum và epotoside. Thời gian sống còn toàn bộ OS (10 ca bệnh tái phát tiến triển): 73,69 ± 8,52 tháng (Thấp nhất 17,3 tháng - Cao nhất 89,6 tháng). Kết luận: U trung mạc biệt hóa cao dạng nhú là loại bướu giáp biên ác của màng phổi, không xâm lấn vào mô đệm màng phổi hay mô phổi lân cận. Hiện nay được xếp vô nhóm u trung mạc lành tính và tiền xâm lấn. Cần chẩn đoán phân biệt với các loại u khác của màng phổi: U dạng tuyến, u trung mạc ác tính tại chỗ và u trung mạc ác tính dạnh biểu mô (khu trú & lan tỏa). Hiện nay, trong hoàn cảnh lâm sàng của bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, điều trị được lựa chọn vẫn là kết hợp bóc vỏ màng phổi và hóa trị bộ đôi platinum - epotoside.
5 Đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị gãy xương bệnh lý của xương dài do di căn xương / Phạm Thanh Nhã, Lê Văn Thọ, Ngô Viết Nhuận // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 474 - 480 .- 610
Di căn xương là nguyên nhân phổ biến nhất trong những tổn thương hủy xương ở người trên 40 tuổi. Các sự cố liên quan xương do di căn gây tăng đau đáng kể, mất chức năng và kết hợp với tỉ lệ tử vong cao. Đối tượng và phương pháp: Chúng tôi thực hiện một nghiên cứu mô tả các trường hợp gãy xương bệnh lý của xương dài do di căn xương được điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình từ 9/2023 đến 9/2024. Kết quả: 20 trường hợp được bao gồm trong nghiên cứu, trong đó có 16 trường hợp ở xương đùi, 2 trường hợp ở xương cánh tay và 2 trường hợp ở xương chày. Các bệnh nhân được điều trị phẫu thuật bằng đóng đinh nội tủy có hoặc không kèm theo tăng cường xi măng, kết hợp xương nẹp vít có hoặc không kèm theo tăng cường xi măng và thay khớp bán phần có xi măng. Kết luận: Phẫu thuật giúp giảm đau và cải thiện chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân ung thư di căn xương. Phương pháp cắt bướu và kết hợp xương tăng cường xi măng hoặc thay khớp nên là phương pháp được chọn để tránh thất bại dụng cụ trong điều trị gãy bệnh lý vùng đầu gần xương đùi do di căn.
6 Điều trị phẫu thuật bảo tồn chi ung thư xương tại Bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình / Lê Văn Thọ // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 449 - 466 .- 610
Ung thư xương là loại ung thư có độ ác cao, thường gặp ở tuổi thanh thiếu niên. Vị trí thường gặp ở vùng gần gối - xa khuỷu. Bệnh thường tiến triển nhanh và cho di căn sớm. Trước kỷ nguyên hóa trị, đoạn chi được lựa chọn hàng đầu, tuy nhiên dự hậu vẫn rất xấu, đa số thường chết trong vòng 1 năm. Sự phát triển của đa hóa trị liệu trong hơn 30 năm qua đã cải thiện dự hậu rất nhiều, tỉ lệ sống 5 năm đã gia tăng đáng kể, từ 30% lên đến 75%, và phẫu thuật bảo tồn chi luôn là sự lựa chọn hàng đầu trong việc điều trị loại bướu này. Tại Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình TP. HCM (BVCTCHTPHCM), chúng tôi đã thực hiện phẫu thuật bảo tồn chi cho các ung thư xương từ 25 năm qua, với kết quả đạt được rất đáng khích lệ. Nhiều công trình nghiên cứu về phẫu thuật bảo tồn chi đã được báo cáo, cũng như một số luận án tiến sĩ, thạc sĩ, chuyên khoa 2 đã được bảo vệ thành công. Trong nội dung bài viết này, chúng tôi chủ yếu trình bày tổng hợp về các phương pháp tái tạo khuyết hổng sau khi cắt bướu, đã được thực hiện tại BVCTCHTPHCM, cũng như bàn luận về các ưu khuyết điểm của từng phương pháp.
7 Kết quả phẫu thuật bảo tồn chi bằng cắt rộng bướu xương và ghép xương mác có cuống mạch / Bùi Hoàng Lạc, Tống Xuân Vũ, Lê Văn Thọ, Lê Chí Dũng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 440 - 448 .- 610
Đánh giá kết quả về chỉnh hình và ung bướu học của phẫu thuật bảo tồn chi bằng cắt rộng bướu xương và ghép xương mác có cuống mạch. Đối tượng và phương pháp: 45 trường hợp bướu xương ác tính và giáp biên ác ở xương cánh tay, xương quay, xương chày được phẫu thuật tại Khoa Bệnh học Cơ – Xương - Khớp, Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình TP. HCM từ 2005 đến 2020. Phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu, đánh giá lành xương theo Hsu, phì đại xương ghép theo De Boer và Wood, chức năng chi theo MSTS. Đánh giá tỷ lệ tái phát tại chỗ, hóa ác, di căn xa và tử vong.Thời gian sống thêm toàn bộ và thời gian sống thêm không bệnh. Kết quả: 1. Kết quả về chỉnh hình: Lành xương ghép là 100%, thời gian lành xương trung bình là 5,20 ± 0,68 tháng. Phì đại xương ghép có 43,9%. Chức năng chi trung bình theo MSTS là 81% ± 8,65%. 2. Kết quả về ung bướu học: Tái phát tại chỗ 4,4%, không ghi nhận hóa ác, tỷ lệ di căn và tử vong 8 trường hợp(17,8%). Thời gian sống thêm toàn bộ trung bình là 155,3 ± 10,1tháng, Thời gian trung bình sống thêm không bệnh là 150,2 ± 10,1 tháng.Tỷ lệ sống thêm toàn bộ và tỷ lệ sống thêm không bệnh sau 5 năm là 79,1%. Kết luận: Phẫu thuật bảo tồn chi các bướu xương ác tính và giáp biên ác bằng phương pháp cắt rộng bướu và ghép xương mác có cuống mạch cho kết quả tốt về mặt chỉnh hình và ung bướu học.
8 Bệnh nang ấu trùng sán dải heo ở tủy sống : báo cáo một trường hợp hiếm gặp và hồi cứu y văn / Hoàng Hạnh Dung, Lê Ngọc Diệu Thảo, Nguyễn Thị Mỹ Xuân An, Phạm Quang Thông, Lê Hồ Ngọc Trâm, Hoàng Văn Thịnh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 560 - 566 .- 610
Bệnh nang ấu trùng sán dải heo ở hệ thần kinh trung ương là bệnh lý truyền nhiễm phổ biến gây ra bởi sự kí sinh của nang ấu trùng thuộc loài Taenia solium ở não, não thất, tủy sống và khoang dưới nhện. Tuy nhiên, thực thể này khi tồn tại ở vị trí tủy sống - ống sống lại là bệnh cảnh hiếm gặp, chỉ chiếm dưới 5% các trường hợp bệnh nang ấu trùng ở hệ thần kinh trung ương. Bệnh thường được chẩn đoán nhầm với các bệnh lý viêm tủy, bệnh lý u ác tính trên lâm sàng và hình ảnh học. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nữ, 56 tuổi, nhập viện vì đau vùng thắt lưng và yếu hai chi dưới. Trên hình ảnh cộng hưởng từ, tổn thương nằm ở vị trí tủy thắt lưng – cùng từ L2 đến S3, có tín hiệu cao không đồng nhất, giới hạn rõ, xâm lấn xương đốt sống và xương cùng. Mẫu sinh thiết khối tổn thương cho thấy nhiều ổ viêm mạn tính dạng viêm hạt cùng với sự hiện diện của các cấu trúc dạng nang hướng đến nang ấu trùng sán dải heo, giúp xác định chẩn đoán bệnh nang ấu trùng ở tủy sống.
9 U hắc tố thần kinh ngoại bì phôi ở trẻ nhũ nhi : báo cáo một trường hợp hiếm gặp và hồi cứu y văn / Hoàng Hạnh Dung, Lê Ngọc Diệu Thảo, Nguyễn Thị Mỹ Xuân An, Phạm Quang Thông, Lê Hồ Ngọc Trâm, Hoàng Văn Thịnh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 552 - 559 .- 610
U hắc tố thần kinh ngoại bì phôi ở trẻ nhũ nhi là một thực thể hiếm gặp, có nguồn gốc từ tế bào mào thần kinh, xảy ra chủ yếu trong một năm đầu đời, đặc biệt là giai đoạn từ 3 đến 6 tháng tuổi. Hầu hết u xảy ra ở xương vùng sọ và mặt, phổ biến nhất là xương hàm trên. Chính vì tốc độ phát triển nhanh của u, kèm theo khả năng xâm lấn, biến dạng cấu trúc xung quanh đòi hỏi việc phát hiện và chẩn đoán kịp thời, nhằm đưa ra hướng điều trị chính xác và thích hợp. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhi nam, 5 tháng tuổi, nhập viện vì khối sưng má phải, vùng xương hàm trên. Bệnh nhi được phẫu thuật bóc trọn u và gửi bệnh phẩm thực hiện xét nghiệm mô bệnh học thường quy. Trên vi thể, mô u hiện diện hai dân số tế bào, bao gồm tế bào giống nguyên bào thần kinh có kích thước nhỏ và tế bào biểu mô sản xuất hắc tố, kích thước lớn hơn. Các tế bào này sắp xếp thành dạng dây, dạng bè hoặc dạng đám, xâm nhập vào mô đệm với mạng lưới mạch máu dày đặc và giàu thành phần sợicollagen. Các tế bào biểu mô chứa hắc tố này bao quanh các tế bào giống nguyên bào thần kinh, tạo thành cấu trúc dạng đám và dạng ống tuyến. Hình ảnh mô bệnh học phối hợp với kết quả hoá mô miễn dịch giúp xác định chẩn đoán u hắc tố thần kinh ngoại bì phôi.
10 Lymphôm tế bào lớn thoái sản giả dạng carcinôm di căn hạch / Phạm Huỳnh Đình Triệu, Lương Anh Khoa, Nguyễn Đức Duy, Bùi Thị Huyền Thương, Trần Hương Giang // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 545 - 551 .- 610
Lymphôm tế bào lớn thoái sản (ALCL) là một thực thể lymphôm hiếm gặp có tiên lượng kém. ALCL có phổ hình thái rộng, có thể giả dạng nhiều loại khối u ác tính khác về mô bệnh học và gây khó khăn trong tiếp cận chẩn đoán bệnh. Chúng tôi báo cáo một trường hợp ALCL ALK âm tính ở một bệnh nhân nữ, 80 tuổi với mô bệnh học chồng lấp với carcinôm di căn hạch chưa rõ cơ quan nguyên phát. Với kiểu hình xâm lấn hạch trên mẫu hạch thượng đòn ban đầu, bệnh nhân được chẩn đoán carcinôm di căn hạch dựa trên các dữ kiện lâm sàng nghèo nàn, vì thế các chỉ định hóa mô miễn dịch ban đầu theo định hướng carcinôm thay vì lymphôm. Khảo sát hình ảnh học phát hiện tình trạng hạch toàn thân là dấu chỉ quan trọng giúp tiếp cận ca bệnh này bên cạnh hóa mô miễn dịch. Từ đó chúng tôi nhận thấy được tầm quan trọng của sự phối hợp chặt chẽ giữa lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và giải phẫu bệnh trong việc nhận diện đúng ALCL. Vai trò của dấu ấn p63 cũng được bàn luận trong báo cáo này.