Nêu vai trò quan trọng của bảo hiểm tiền gửi và đưa ra một số đề xuất, giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của tổ chức BHTG trong tài cơ cấu các TCTD yếu kém.
Trình bày tiềm năng cũng như tình hình hoạt động hiện nay của các công ty Fintech tại Việt Nam, những khó khăn, thách thức mà các doanh nghiệp này hiện phải đối mặt, cũng như mong muốn của họ đối với cơ quan quản lý.
Trình bày bước tiến trong ứng dụng công nghệ số và mức độ tiếp cạn CMCN 4.0 của ngân hàng Việt Nam và định hướng tiếp cận, ứng dụng cách mạng công nghiệp 4.0 của ngân hàng.
Tổng quan về phát triển Fintech hiện nay trên toàn cầu; phản ứng của ngành ngân hàng toàn cầu đối với sự phát triển của Fintech; chuyển động của ngân hàng Trung ương và tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế về Fintech.
Nghiên cứu nhằm mục đích xem xét tác động của sự tập trung quyền sở hữu và tính độc lập của ban quản trị lên hành vi chấp nhận rủi ro của các công ty niêm yết tại VN. Sử dụng mẫu dữ liệu có tính đại diện cao trong giai đoạn 2008–2015 cũng như áp dụng các kĩ thuật ước lượng chuyên biệt nhằm xử lí các vấn đề về kinh tế lượng, nghiên cứu phát hiện mối quan hệ nghịch biến (đồng biến) giữa tập trung quyền sở hữu (tính độc lập của ban quản trị) và hành vi chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp. Kết quả xác nhận tầm quan trọng của 2 cơ chế quản trị doanh nghiệp đặc thù, gồm: Cấu trúc sở hữu và cơ cấu ban quản trị trong mối liên hệ với đặc tính rủi ro của các quyết định doanh nghiệp trong bối cảnh VN.
Nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của đặc điểm công ty đến khả năng trình bày sai lợi nhuận trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và phải điều chỉnh lại khi có kết quả kiểm toán ở các công ty niêm yết tại VN. Dữ liệu được thu thập từ 2.490 báo cáo tài chính năm giai đoạn 2010–2015. Thông qua phương pháp hồi quy logistic, kết quả nghiên cứu tìm thấy bằng chứng một số đặc điểm công ty như: Lỗ ở năm trước, báo cáo năm trước trình bày sai, áp lực lợi nhuận ở năm hiện tại, tỉ số nợ, giá trị thị trường so với giá trị sổ sách có tác động đến khả năng trình bày sai lợi nhuận và phải điều chỉnh lại chỉ tiêu này khi có kết quả kiểm toán. Kết quả này là cơ sở để người sử dụng báo cáo tài chính nhận diện những công ty có khả năng trình bày sai lợi nhuận, từ đó có những quyết định kinh tế phù hợp.