CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
2 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh trứng cá thông thường tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 / Nguyễn Ngọc Oanh, Bùi Thị Vân // Y học thực hành .- 2016 .- Số 06 (1013) .- Tr. 153-156 .- 610
Tìm hiểu đặc điểm dịch tễ bệnh trứng cá thông thường điều trị tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 10/2015-5/2016.
4 Đặc điểm lâm sàng và thực trạng sử dụng thuốc dự phòng hen phế quản ở trẻ dưới 5 tuổi / Nguyễn Thị Thu, Bùi Kim Thuận, Phan Thị Diệu Ngọc // Y học thực hành .- 2016 .- Số 06 (1013) .- Tr. 170-171 .- 615
Khảo sát đặc điểm lâm sàng và thực trạng dùng thuốc dự phòng trong điều trị hen phế quản ở trẻ dưới 5 tuổi tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2015.
5 Độc tính cấp và ảnh hưởng của dịch chiết cây Đắng cay (zanthoxylum armatum DC) đến tình trạng chung và chức năng tạo máu ở động vật thực nghiệm / Nguyễn Thị Tâm Thuận // Y học thực hành .- 2016 .- Số 06 (1013) .- Tr. 172-176 .- 610
Nghiên cứu độc tính cấp của dịch chiết cây Đắng cay (zanthoxylum armatum DC) trên thực nghiệm. Đánh giá ảnh hưởng của dịch chiết cây Đắng cay qua tình trạng chung và xét nghiệm huyết học trên thỏ thực nghiệm.
7 Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của người dân tại 6 vùng sinh thái của Việt Nam về bệnh đái tháo đường / // Y học thực hành .- 2016 .- Số 06 (1013) .- Tr. 183-187 .- 610
Tìm hiều thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của người dân tại 6 vùng sinh thái trên toàn quốc về bệnh đái tháo đường.
8 Nền kinh tế phi chính thức và thất thoát thu thuế ở Việt Nam / Nguyễn Thái Hòa, Lê Việt An // Kinh tế & phát triển .- 2017 .- Số 245 tháng 11 .- Tr. 2-12 .- 330
Nghiên cứu được thực hiện nhằm ước tính quy mô nền kinh tế phi chính thức ở Việt Nam và xu hướng phát triển của nó trong giai đoạn 1995 - 2015. Từ đó, ước lượng số thu thuế bị thất thoát của Việt Nam do nền kinh tế phi chính thức gây ra. Trong nghiên cứu này, phương pháp mô hình MIMIC được sử dụng để xác định quy mô nền kinh tế phi chính thức dựa vào các nguyên nhân quan sát được trong nền kinh tế. Kết quả cho thấy quy mô nền kinh tế phi chính thức của Việt Nam hiện vẫn còn lớn, khoảng 20-30% GDP và có xu hướng gia tăng mạnh từ năm 2007 cho đến nay; trong khi các quốc gia khác lại có chiều giảm. Bên cạnh đó, với quy mô nền kinh tế phi chính thức hiện tại, số thuế bị thất thoát hằng năm ở khu vực này của Việt Nam tương đối lớn. Điều này đặt ra những mối quan tâm cần thiết trong việc kiểm soát và thu hẹp phạm vi của khu vực này.
9 Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia ở Việt Nam: Kết quả thực hiện và hướng hoàn thiện / Bùi Đức Triệu // Kinh tế & phát triển .- 2017 .- Số 245 tháng 11 .- Tr. 13-21 .- 310.330
Xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cần có sự quản lý và hoạch định chính sách kinh tế xã hội ở tầm vĩ mô của nhà nước, một trong các công cụ quan trọng của nó là Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia do Chính phủ ban hành. Kết quả thực hiện hệ thống chỉ tiêu này ở Việt Nam trong thời gian qua cho thấy ngoài những ưu điểm là làm tăng số lượng và chất lượng của các chỉ tiêu thống kê, tăng tính hội nhập quốc tế, còn một số hạn chế về quy mô, chuẩn mực, về phân tổ, kỳ hạn công bố và phương pháp tính của một số chỉ tiêu trong hệ thống. Từ thực tế đó, bài viết khuyến nghị hoàn thiện Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia ở Việt Nam theo hướng: rà soát giảm các chỉ tiêu có tính chuyên ngành, bổ sung một số chỉ tiêu quan trọng, tách gộp một số chỉ tiêu, chuẩn hóa tên gọi, kỳ công bố, phương pháp thu thập, tính toán một số chỉ tiêu theo hướng hội nhập quốc tế.
10 Tác động của các chương trình trợ cấp đến phúc lợi hộ gia đình ở Việt Nam / Nguyễn Hoàng Oanh, Nguyễn Hồng Ngọc, Hồ Đình Bảo // Kinh tế & phát triển .- 2017 .- Số 245 tháng 11 .- Tr. 22-30 .- 330
Bài viết này sử dụng phương pháp kết nối điểm xu hướng (PSM) để xác định các nhân tố quyết định khả năng tham gia hai nhóm chính sách hỗ trợ tư liệu sản xuất (HTTLSX) và hỗ trợ thu nhập (HTTN) và phương pháp khác biệt kép (DID) để đánh giá tác động của các chính sách này đến phúc lợi hộ gia đình ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy các chính sách hỗ trợ tuy chưa cải thiện phúc lợi của các hộ tham gia chính sách trong giai đoạn nghiên cứu một cách rõ ràng, nhưng xu hướng tác động là tích cực theo thời gian. Đáng chú ý là, mặc dù các chính sách này không làm tăng tổng thu nhập hay tổng chi tiêu của các hộ tham gia chính sách, nhưng làm tăng đáng kể thành phần thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, đặc biệt đối với nhóm được hỗ trợ về tư liệu sản xuất, đồng thời làm tăng chi tiêu cho hàng hóa lâu bền và dịch vụ y tế so với các hộ không được nhận hỗ trợ.