Trình bày quá trình phát triển kiểm toán hoạt động trong các cơ quan Kiểm toán Nhà nước tối cao trên thế giới; Phát triển kiểm toán hoạt động ở Việt Nam; Đề xuất giải pháp phát triển kiểm toán hoạt động; Kết luận.
Trong bối cảnh hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp ngày càng được sử dụng rộng rãi, nghiên cứu tìm kiếm các lợi ích kế toán do ứng dụng hệ thống này nhằm cung cấp thêm căn cứ để đánh giá về sự thành công trong việc ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp đến các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp và các nhà cung cấp. Dữ liệu được thu thập từ 114 cá nhân, thông qua kĩ thuật phân tích nhân tố khám phá, kết quả nghiên cứu cho thấy nhân viên kế toán cảm nhận hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp mang lại 5 nhóm lợi ích kế toán bao gồm: (1) Lợi ích liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ kế toán; (2) Lợi ích kế toán về mặt công nghệ thông tin; (3) Lợi ích về mặt tổ chức kế toán; (4) Lợi ích kế toán về khía cạnh quản lí tài chính; và (5) Lợi ích về mặt kế toán quản trị.
Tổng quan tình hình nghiên cứu; Khái quát về cơ sở kế toán (CSKT) và lựa chọn CSKT cho các đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính; Thực trạng CSKT và CĐKT áp dụng tai các VNC thuộc các TĐKTNN Việt Nam; Lựa chọn CSKT phù hợp với đặc thù hoạt động của các VNC thuộc các TĐKTNN Việt Nam; Đề xuất về CĐKT áp dụng tại các VNC.
Bài viết nghiên cứu so sánh ảnh hưởng của thể chế đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI ở VN. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, bài viết có kiến nghị một số giải pháp để cải thiện chất lượng thể chế thông qua cải thiện các chỉ tiêu của thể chế kinh tế trên cả ba phương diện: Luật chơi, ngươi chơi và cơ chế thực thi nhằm nâng cao kết quả hoạt động và thành công của doanh nghiệp.
Cấu trúc của một thị trường tài chính tổng thể bao gồm hệ thống tài chính phụ thuộc vào thị trường chứng khoán và hệ thống tài chính phụ thuộc vào ngân hàng. Việc có hay không sự tác động, kể cả tích cực lẫn tiêu cực của cấu trúc tài chính một quốc gia đến tăng trưởng kinh tế của quốc gia đó là chủ đề gây khá nhiều tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu. Nghiên cứu này được thực hiện bằng mô hình GMM dựa trên mẫu gồm 16 quốc gia thuộc khu vực châu Á trong giai đoạn 2004–2014 với mục tiêu đóng góp thêm bằng chứng thực nghiệm bên cạnh các kết quả tìm thấy ở các nghiên cứu trước. Thông qua các kết quả ước lượng đạt được từ mô hình GMM, tác giả tìm thấy một số bằng chứng quan trọng về sự không đồng nhất giữa các quốc gia trong mối quan hệ giữa phát triển tài chính, cấu trúc tài chính và tăng trưởng kinh tế. Thông qua kiểm tra một vài giả thuyết về vai trò tiềm năng của cấu trúc tài chính và phát triển tài chính với tăng trưởng kinh tế, kết quả cho thấy cấu trúc tài chính giải thích hầu hết tăng trưởng kinh tế của các quốc gia nghiên cứu.