Trong bối cảnh BĐKH đang diễn ra trên diện rộng khắp cả nước, đô thị cần được tạo dựng tính thích ứng để có thể phát triển bền vững. Bên cạnh công tác quy hoạch, một trong các yếu tố cần được tính đến là tính thích ứng với BĐKH của công trình kiến trúc. Các công trình kiến trúc tại các đô thị, đặc biệt là các công trình cao tầng cần được thiết kế có tính thích ứng cao với các tác động của BĐKH tại các đô thị bao gồm: ngập úng, hiện tượng đảo nhiệt đô thị, gió – bão trong đô thị và bức xạ nhiệt. Cần có các nghiên cứu đánh giá cụ thể về tác động cũng như đề xuất các giải pháp thiết kế được cụ thể hóa thể hiện sự lồng ghép trong các hệ thống quy chuẩn – tiêu chuẩn thiết kế công trình đô thị ứng phó với BĐKH trong thời gian tới.
Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2011 với 05 đô thị vệ tinh. Tới nay, chưa một đô thị vệ tinh nào hiện diện, trong khi đó cấu trúc đô thị đã có nhiều thay đổi. Vấn đề đặt ra lúc này là quản lý quy hoạch chung và phát triển đô thị vệ tinh cho Hà Nội ra sao? Việt Nam cần đúc rút kinh nghiệm gì từ mô hình quản lý quy hoạch và phát triển đô thị vệ tinh trên thế giới để phù hợp và làm cơ sở phát triển bền vững cho Thủ đô Hà Nội?
Năm 2011 Hà Nội hoàn thành quy hoạch chung xây dựng Thủ đô đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050. Trong bản quy hoạch này, Hà Nội có 05 đô thị vệ tinh. Đến nay, đã 05 năm triển khải đồ án, sự thay đổi trên thực tế vẫn chưa được thấy rõ, đặc biệt là sự kết nối giữa đô tị trung tâm và các đô thị vệ tinh. Nhưng kinh nghiệm thế giới trong xây dựng các đô thị vệ tinh và cơ cấu hạ tầng khung để kết nối với các thành phố trung tâm cũng là những bài học để chúng ta xem xét tham khảo đối với Hà Nội.
Giới thiệu hệ thống đô thị vệ tinh trong tổng thể Thành phố Hà Nội. Vai trò của đô thị vệ tinh trong các mối quan hệ. Định hướng và giải pháp phát triển đô thị vệ tinh.
Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã chủ động đề xướng chủ nghĩa đa phương, thúc đẩy hợp tác đa phương, theo đó ngoại giao đa phương đã trở thành một bộ phận quan trọng của ngoại giao Trung Quốc trong những năm đầu thế kỷ XXI. Hay nói cách khác, ngoại giao đa phương là một mắt xích quan trọng trong bố trí tổng thể của ngoại giao Trung Quốc. Vậy vì sao Trung Quốc thực hiện và ngày càng coi trọng ngoại giao đa phương, quá trình phát triển ngoại giao đa phương diễn ra như thế nào và triển vọng của nó ra sao? Bài viết sẽ đi sâu phân tích vấn đề này.
Khu vực Đông Nam Á đang chứng kiến sự cạnh tranh gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc nhất là sau khi Mỹ thực hiện chiến lược “xoay trục” sang châu Á. Việc nhà tỷ phú Donal Trump trở thành Tổng thống thứ 45 dự báo sẽ khiến sự cạnh tranh Mỹ - Trung trở nên khốc liệt hơn bao giờ hết trên tất cả các khía cạnh: địa chiến lược, an ninh, kinh tế và đương nhiên sẽ có những tác động tới môi trường an ninh chiến lược của Việt Nam. Bài viết sẽ phân tích rõ hơn về sự cạnh tranh Mỹ - Trung tại Đông Nam Á trong bối cảnh mới, đưa ra một số những nhận định, khuyến nghị cho Việt Nam.
Phân tích các khía cạnh chủ chốt về lý thuyết và thực tiễn của “tư duy chiến lược”, là điểm kết nối quan trọng và xuyên suốt của cả hai quá trình hoạch định và triển khai chính sách; từ đó đề xuất một số khuyến nghị cho Việt Nam trong thời gian tới.
Việt Nam đang bị kẹp trong gọng kìm giữa một bên là sự hung hăng của Trung Quốc trên Biển Đông và một bên là sự giành giật lại quyền lãnh đạo của Mỹ tại khu vực. Tuy nhiên, vẫn còn những yếu tố cho thấy, trong phạm vi trung hạn, Việt Nam có thể tự mình xây dựng vị thế một quốc gia có ảnh hưởng tại khu vực Đông Nam Á.
Trong những năm gần đây, Nhật Bản đã tích cực nêu các vấn đề liên quan đến tranh chấp tại Biển Đông trong các hoạt động đối ngoại của mình cũng như thường xuyên triển khai các hoạt động hỗ trợ năng lực cho các nước ven biển…Việt Nam là một quốc gia yêu sách chủ chốt tại Biển Đông nên đã nhận được nhiều hỗ trợ từ Nhật. Triển vọng hợp tác hai nước trong tương lai sẽ càng được mở rộng khi cả hai nước càng hiểu rõ chính sách và nhu cầu của nhau.