CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Mối quan hệ giữa cung tiền, lạm phát và sản lượng ở Việt Nam và Trung Quốc sau 30 năm đổi mới / Phạm Đình Long, Bùi Quang Hiển // Nghiên cứu kinh tế .- 2018 .- Số 476 tháng 1 .- Tr. 44-54 .- 332.4
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa cung tiền, lạm phát và sản lượng ở Việt Nam giai đoạn tuwg 1986-2016 và Trung Quốc trong giai đoạn 1978-2008. Sâu 30 năm đổi mới, bài viết muốn chứng minh về sự tồn tại mối quan hệ giữa các biến này và mong đợi có phát hiện mới khi sử dụng các kỹ thuật định lượng mới trong xử lý dữ liệu chuỗi thời gian; đồng thời góp phần làm rõ sự tác động qua lịa giữa các biến đã đề cập trong lĩnh vực điều hành chính sách tiền tệ.
2 Đầu tư và lợi ích kinh tế của cơ sở chăn nuôi khi liên kết với doanh nghiệp trong chăn nuôi / Hoàng Vũ Quang // .- 2018 .- Số 476 tháng 1 .- Tr. 55-62 .- 330
Trình bày kết quả nghiên cứu về chi phí đầu tư cho cơ sở hạ tầng và lợi ích kinh tế của cơ sở chăn nuôi khi liên kết với doanh nghiệp. Qua điều tra 130 cơ sở chăn nuôi, trong đó có 101 cơ sở liên kết với 27 doanh nghiệp, nghiên cứu chỉ ra rằng: cơ sở chăn nuôi liên kết với doanh nghiệp có thu nhập cao hơn cơ sở không liên kết.
3 Cấu trúc, quản lý và lãnh đạo đối với quản trị liên kết vùng trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm miền Trung / Nguyễn Hiệp // Nghiên cứu kinh tế .- 2018 .- Số 476 tháng 1 .- Tr. 63-71 .- 332.63
Trình bày cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu; Kết quả nghiên cứu đặc trưng quản trị liên kết vùng trong thu hút FDI của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung; Kết luận và hàm ý chính sách.
4 Hiệp định thương mại Việt Nam và Hoa Kỳ qua 20 năm : cơ hội và thách thức cho Việt Nam / Phan Quan Việt, Nguyễn Tường Huy // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2018 .- Số 511 tháng 02 .- Tr. 4-6 .- 340
Trình bày những nội dung chủ yếu cau rHieepj định; Kết quả về quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Hoa Kỳ qua 20 năm; Cơ hội và thách thức cho VN.
5 Cách mạng công nghiệp 4.0 : giải pháp ứng dụng thanh toán không dùng tiền mặt / Nguyễn Đăc Anh Chương, Lương Minh Lan // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2018 .- Số 511 tháng 02 .- Tr. 10-12 .- 332.4
Trình bày cách mạng công nghiepj 4.0 trong ngành tài chính ngân hàng; Thực trạng thanh toán điện tử tại Việt Nam; Giải pháp đối với ngành ngan hàng Việt Nam.
7 Ảnh hưởng của dòng tiền đến độ nhạy cảm tiền mặt nắm giữ trong điều kiện hạn chế tài chính của các công ty Việt Nam / Nguyễn Thị Uyên Uyên, Từ Thị Kim Thoa // Phát triển kinh tế .- 2018 .- Số 28 tháng 11 .- Tr. 26-53 .- 332.401
Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích ảnh hưởng của dòng tiền đến độ nhạy cảm của tiền mặt nắm giữ trong điều kiện doanh nghiệp gặp hạn chế tài chính. Nghiên cứu được thực hiện dựa trên phân tích dữ liệu của 533 công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội, 230 công ty đang giao dịch thị trường giao dịch chứng khoán công ty đại chúng chưa niêm yết (UPCOM) và thị trường giao dịch ngoài quầy (OTC) trong giai đoạn 2008–2014 tạo thành bảng gồm 4.325 công ty – năm quan sát. Bằng việc sử dụng các mô hình hồi quy dữ liệu bảng với cách tiếp cận theo phương pháp hiệu ứng cố định, hiệu ứng ngẫu nhiên, GMM hệ thống, nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty chưa niêm yết có xu hướng nắm giữ tiền mặt nhiều hơn từ dòng tiền tạo ra của công ty, trong khi các công ty đã niêm yết thì không. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng phân loại các công ty theo tình trạng niêm yết, cụ thể là các công ty chưa niêm yết được xem là các công ty bị hạn chế tài chính, còn các công ty đã niêm yết là các công ty không bị hạn chế tài chính.
8 Đầu tư trực tiếp nước ngoài và chất lượng thể chế : bằng chứng thực nghiệm từ các nước châu Á / Huỳnh Công Minh, Nguyễn Tấn Lợi // Phát triển kinh tế .- 2018 .- Số 28 tháng 11 .- Tr. 54-72 .- 332.63
Nghiên cứu phân tích mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài với chất lượng thể chế tại 19 nước châu Á trong giai đoạn 2002–2015 thông qua mô hình hệ phương trình đồng thời. Bằng phương pháp ước lượng 3SLS và SGMM, nghiên cứu đã chứng minh chất lượng thể chế là một tín hiệu tích cực trong thu hút FDI và ngược lại, FDI là một kênh quan trọng thúc đẩy chất lượng thể chế. Nghiên cứu tìm thấy các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến chất lượng thể chế bao gồm: Dân chủ hóa, độ mở thương mại, giáo dục, và thu nhập quốc dân bình quân đầu người; đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra các nhân tố quan trọng để thu hút FDI bao gồm: Đầu tư trong nước, quy mô thị trường, nguồn lao động, chất lượng lao động, độ mở thương mại, và nguồn tài nguyên thiên nhiên.
9 Mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng cho tuyến Metro số 1 tại TP. Hồ Chí Minh / Lê Thanh Loan, Lê Tuấn Anh // Phát triển kinh tế .- 2018 .- Số 28 tháng 11 .- Tr. 73-96 .- 658.4
Nghiên cứu ước lượng mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng tiềm năng cho tuyến Metro số 1 của dự án tàu điện ngầm tại TP. Hồ Chí Minh bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên và đánh giá thực trạng giao thông tại thành phố. Mức sẵn lòng trả trung bình ước lượng là 9.320 đồng/hành khách/lượt và khung giá vé được lựa chọn nhiều nhất là từ 8.000–12.000 đồng/hành khách/lượt. Yếu tố tác động tích cực đến mức sẵn lòng trả gồm lợi ích của tuyến Metro số 1 đối với người tiêu dùng (tính linh động và thời gian di chuyển của tuyến Metro số 1), chi phí di chuyển hiện tại, thu nhập, và giới tính. Lợi ích xã hội và môi trường của tuyến Metro số 1 mặc dù được đánh giá cao nhưng không có ý nghĩa thống kê trong việc tác động đến mức sẵn lòng trả. Nghiên cứu cung cấp khung giá vé phổ biến và mức sẵn lòng trả làm căn cứ xây dựng chính sách giá để khai thác hiệu quả tuyến Metro số 1. Đồng thời, chiến lược quảng bá nên ưu tiên vào yếu tố về hiệu quả của tuyến Metro số 1 đối với người tiêu dùng.
10 Vai trò của yếu tố gắn kết trong mối quan hệ giữa ý định và hành vi khởi nghiệp của sinh viên / Nguyễn Quang Thu, Trần Thế Hoàng, Hà Kiên Tân // .- 2018 .- Số 28 tháng 11 .- Tr. 4-25 .- 658
Nghiên cứu kiểm định mối quan hệ giữa ý định và hành vi khởi nghiệp thông qua yếu tố trung gian là gắn kết trong khởi nghiệp của sinh viên năm cuối tại một số tỉnh/thành phố phía Nam như: TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai. Mối quan hệ này được kiểm định thông qua mẫu gồm 248 sinh viên đã và đang khởi nghiệp; Kết quả nghiên cứu cho thấy ý định khởi nghiệp có tác động dương trực tiếp đến hành vi khởi nghiệp thấp hơn đến yếu tố gắn kết trong khởi nghiệp; yếu tố gắn kết trong khởi nghiệp có tác động dương khá mạnh đến ý định khởi nghiệp; và có thể nói, yếu tố gắn kết trong khởi nghiệp đóng vai trò trung gian quan trọng trong mối quan hệ giữa ý định dẫn đến hành vi khởi nghiệp. Qua đó, tác giả đưa ra một số hàm ý chính sách cho các trường đại học và hướng nghiên cứu tiếp theo.