Sự tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế cùng với việc giảm bớt các rào cản thương mại đã tạo động lực cho các quốc gia tham gia vào chuyên môn hóa sản xuất quốc tế. Bài viết này nghiên cứu thương mại nội ngành (IIT) của Việt Nam và các nước châu Á. Thông qua việc phân tích chỉ số IIT trong 10 nhóm hàng cơ bản theo tiêu chuẩn SITC- Rev 3, bài viết phân tích cấu trúc thương mại nội ngành của Việt Nam trong những nhóm hàng có chỉ số IIT cao nhất. Kết quả cho thấy, trong mạng lưới sản xuất khu vực, Việt Nam chuyên môn hóa ở nhóm hàng nguyên liệu thô và nhiên liệu, trong đó thương mại nội ngành diễn ra chủ yếu ở các mặt hàng: quặng kim loại, dầu khí, quả và hạt có dầu. Ngược lại, một số mặt hàng như: than, nứa và gỗ, bột giấy phần lớn là thương mại liên ngành. Phần cuối của bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách để Việt Nam vượt qua các thách thức nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai.
Nghiên cứu xem xét ảnh hưởng chủ yếu của tự do hóa thương mại và kiểm soát tham nhũng tới giảm mức phân bổ sai nguồn lực, cũng như đóng góp của việc tái phân bổ nguồn lực từ các doanh nghiệp gia nhập, rút lui và sống sót tới tăng trưởng năng suất tập trung vào các doanh nghiệp chế tác Việt Nam. Chúng tôi áp dụng khung nghiên cứu của Hsieh & Klenow (2009) để tính toán mức phân bổ sai và phân rã năng suất động của Olley & Pakes (1996) để đánh giá sự đóng góp các doanh nghiệp gia nhập, rút lui và sống sót tới thay đổi năng suất gộp. Nghiên cứu tìm thấy rằng tự do hóa thương mại và kiểm soát tham nhũng làm giảm phân bổ sai nguồn lực và tỷ lệ đóng góp của các công ty sống sót tới năng suất gộp và năng suất nhân tố tổng hợp giảm 44% và 28% trong cả giai đoạn 2000-2013.
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp ước lượng ở phạm vi địa lý nhỏ để tính toán các chỉ số về mức sống và quản trị công ở các huyện của Việt Nam trong thời kỳ 2010-2014. Tiếp theo đó, chúng tôi áp dụng mô hình probit tỷ lệ với ước lượng tác động cố định (fixed-effect fractional probit) để đánh giá tác động của quản trị công tới giảm nghèo ở hai chỉ số là tỷ lệ nghèo và độ sâu của nghèo. Kết quả phân tích kinh tế lượng cho thấy các huyện có chất lượng quản trị công tốt sẽ có tỷ lệ nghèo và độ sâu của nghèo thấp hơn, sau khi đã kiểm soát về mức độ tăng trưởng chi tiêu và bất bình đẳng giữa các huyện. Điều đó hàm ý rằng quản trị công tốt có hai tác động quan trọng: thứ nhất, giảm tỷ lệ nghèo hay nói cách khác là giúp người nghèo thoát nghèo; thứ hai, giảm mức độ thiếu hụt của người nghèo hay nói cách khác là làm cho người nghèo bớt nghèo hơn. Kết quả trên hàm ý rằng chính quyền địa phương đóng vai trò tích cực trong giảm nghèo qua việc nâng cao chất lượng quản trị công.
Bài viết đánh giá và phân tích hai hình thức huy động vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, đó là huy động từ các nguồn vốn tư nhân, huy động từ các nguồn vốn nước ngoài. Kết quả nghiên cứu cho thấy vốn được coi là yếu tố quyết định đến phát triển hạ tầng giao thông ở Việt Nam để thực hiện thành công chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh ngân sách nhà nước hạn hẹp, nhu cầu về vốn phát triển hạ tầng giao thông ngày càng lớn nên việc xã hội hóa các kênh huy động vốn là yếu tố cấp thiết để giải quyết “bài toán” vốn cho đầu tư phát triển hạ tầng giao thông ở Việt Nam trong thời gian tới.
Cung cấp chứng thực nghiêm về hiệu ứng kỳ nghỉ lễ đối với lợi nhuận chứng khoán và các đề lý giải tác động của kỳ nghỉ lễ. Bài viết phản ánh lợi nhuận chứng khoán cao bất thường trước các kỹ nghỉ lễ tại Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh.
Bài viết nghiên cứu ảnh hưởng của việc niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đến tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Dược phẩm. Bài viết sử dụng dữ liệu là báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 13 doanh nghiệp Dược đang niêm yết trên hai thị trường chứng khoán của Việt Nam. Sử dụng phương pháp so sánh các tỷ suất tài chính giữa hai thời điểm trước và sau khi niêm yết với kiểm định phi tham số Wilcoxon. Kết quả phân tích cho thấy có sự cải thiện về khả năng thanh toán, về dòng tiền, về khả năng sinh lợi, và về doanh thu thực của các doanh nghiệp dược trong mẫu nghiên cứu tuy nhiên sự khác biệt không nhiều. Dựa trên kết quả phân tích, bài viết đề xuất một số kiến nghị tiếp tục chương trình cổ phần hóa và niêm yết của các doanh nghiệp trên sàn chứng khoán Việt Nam.
Các nghiên cứu trước về mối quan hệ giữa hiệu quả điều hành của Chính phủ, tham nhũng và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cho nhiều kết luận không tương đồng. Một số nghiên cứu tìm thấy tác động, một số nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ. Nghiên cứu này ứng dụng phương pháp hồi quy không gian, sử dụng dữ liệu dạng bảng động trong 12 năm từ 2005-2016 của 11 nước ASEAN để kiểm định tác động của hiệu quả điều hành của Chính phủ, kiểm soát tham nhũng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bài viết tìm thấy bằng chứng thống kê mạnh là kiểm soát tham nhũng và hiệu quả hoạt động của Chính phủ sẽ giúp tăng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và giữa các nước ASEAN có tồn tại hiệu ứng lan tỏa chính sách kinh tế. Từ đó bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách phù hợp với điều kiện thực tế cho Việt Nam.
Nghiên cứu này nhằm mục tiêu đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố đổi mới sáng tạo tới kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng bảng hỏi với lãnh đạo các doanh nghiệp và dữ liệu được phân tích bằng phương pháp phân tích đa biến (Cronbach Alpha test, phân tích khẳng định nhân tố - CFA, mô hình cấu trúc tuyến tính - SEM). Kết quả nghiên cứu từ 144 doanh nghiệp cho thấy nhân tố năng lực với thị trường và khách hàng có tác động trực tiếp đến kết quả tài chính và ba nhân tố (1) khả năng nhận biết và khai thác tri thức, (2) khả năng nắm bắt cơ hội và (3) khả năng thay đổi trong quản lý có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả phi tài chính và ảnh hưởng gián tiếp đến kết quả tài chính. Kết quả phi tài chính có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả tài chính của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhân tố khả năng khác biệt hóa không ảnh hưởng tới kết quả tài chính và phi tài chính.
Phân tích pháp luật quốc tế về quyền đình công, pháp luật một số quốc gia trong tương quan so sánh với pháp luật Việt Nam về quyền công, nhận xét và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền đình công theo các khía cạnh chủ yếu như: khái niệm đình công, phân loại đình công, tổ chức và lãnh đạo đình công, trình tự, thủ tục đình công.
Chỉ ra một số vướng mắc về việc sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, yêu cầu phản tố; đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự; đồng thời đề xuất hoàn thiện pháp luật theo hướng ưu tiên bảo đảm quyền, lợi ích của đương sự khi có vi phạm trình tự, thủ tục dân sự.