Viêm quanh khớp vai là bệnh thường gặp trong lâm sàng phục hồi chức năng, bệnh này có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng lao động và sinh hoạt của người bệnh. Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả vận động trị liệu kết hợp vật lý trị liệu trong điều trị bệnh nhân viêm quanh khớm vai thể đơn thuần.
Nghiên cứu tiến hành sử dụng các chất ức chế tín hiệu phân tử PI3K/Akt/GSK3β để xác định mức độ biểu hiện gen klotho và khả năng sản xuất cytokine IL-10 của tế bào tua.
Công bố định danh một số nấm đơn bào trên bệnh nhân nữ nhập viện ở Hải Dương, sử dụng các phương pháp sinh học phân tử áp dụng PCR và “mã vạch” DNA với cặp mồi ITS1F/ITS4R theo quy trình thu chuỗi nucleotide vùng giao ITS, đồng thời phân tích đối chiếu với các chuỗi gen đã đăng ký trên ngân hàng gen, phân tích phả hệ và xác định đến loài củ các mẫu nấm vi sinh gây bệnh.
Lựa chọn bảy gen độc lực quan trọng của Salmonella gồm spiA, spvB, sitC, sifA, sipB, PagC và invA để kiểm tra sự xuất hiện và đánh giá mức độ biểu hiện của từng gen giữa các chủng Salmonella khác nhau, từ đó cung cấp thêm những thông tin cần thiết cho các nhà quản lý trong công tác phòng và điều trị bệnh.
Nghiên cứu chế tạo và thử nghiệm thành công que thử SEB ở quy mô phòng thí nghiệm. Que thử có khả năng phát hiện độc tố SEB ở nồng độ là 10ng/ml, có độ nhạy và độ đặc hiệu cao tương ứng là 100% và 96,66%. Que thử phát hiện nhanh độc tố SEB không phản ứng chéo với các độc tố khác như SEA, SEC, SED, và SEE, đọc kết quả trong khoảng thời gian là 10 phát và có chất lượng tương đương với các que thử thương mại. Việc tạo ra que thử phát hiện độc tố SEB của S.aureus dạng sắc ký miễn dịch có ý nghĩa quan trọng trong công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng bệnh và bảo vệ người tiêu dùng.
Công bố quy trình nuôi cấy tế bào lai A6g11G9 để thu được kháng thể với hàm lượng cao nhất. Dung dịch NH4SO4 nồng độ cuối cùng là 50% bão hòa được dùng để tủa kháng thể kháng A trong dịch nuôi cấy. Kháng thể kháng A trong dịch nuôi cấy được cô đặc 5 lần có hiệu giá kháng thể là 1/512 và cường độ phản ứng ngưng kết hồng cầu A là 4+.
Nghiên cứu nhằm phát triển phức hệ hạt Chitosan, Pluronic F127 bằng phương pháp tạo gel ion bao paclitaxel và gắn DNA aptamer đích ứng dụng trong điều trị ung thư in vitro. Kết quả của nghiên cứu đã chứng minh các hạt mixen kết hợp DNA aptamer có tính tương thích sinh học và có tiềm năng sử dụng như hệ dẫn truyền thuốc chống ung thư.
Trong nghiên cứu này, letrozole (quy mô 100g/mẻ) được tổng hợp thành công từ phản ứng giữa 4-[1-(1,2,4-triazolyl) methyl] benzonitrile (TMB) và p-fluorobenzonitrile với sự có mặt của tác nhân deproton hóa potassium tert-butoxide (t-BuOK) trong dung môi tetrahydrofuran (THF).
Xác định khả năng sinh trưởng của tế bào ở giai đoạn nuôi cấy sơ cấp thông qua việc thu nhận và nuôi cấy nguyên bào sợi từ mô xương đuôi, thận và phổ chuột nhắt trắng. Sau đó, tiến hành kiểm tra ảnh hưởng của việc cấy chuyền lặp lại nhiều lần đối với sự phát triển và hình thái tế bào nhằm xác định khả năng sử dụng kỹ thuật nuôi cấy tế bào từ mô cho các mục đích tạo dòng tế bào phục vụ những nghiên cứu chuyên sâu.
Từ gói dữ liệu trình tự thế hệ mới mô cơ và mô gan tụy tôm sú thu nhận và vùng biển Bắc Trung Bộ Việt Nam, bài viết đánh giá, tiền xử lý và lắp ráp de novo hệ phiên mã, tinh sạch và thu được 17.406 unigene với kích thước trung bình là 403,06 bp, N50 và 402 bp. Toàn bộ các unigene trong hệ phiên mã tinh sạch được chú giải với 4 cơ sở dữ liệu khác nhau và đã sàng lọc được 51 unigen liên quan đến tính trạng tăng trưởng.