Kết quả thẩm định đạt các yêu cầu về tính tương thích hệ thống, tính tuyến tính, độ đặc hiệu, độ chính xác cao (RSD% độ lặp lại trung gian của curdion và germacron lần lượt là 1,09% và 0,91%), độ đúng với độ phục hồi trong khoảng 99,88 – 101,40% và 98,54 – 101,05% tương ứng với curdion và germacron.
Để đánh giá tác dụng chống giảm tiểu cầu của cao toàn phần lá đu đủ Việt Nam, sử dụng mô hình gây giảm tiểu cầu bằng cyclophosphamid trên chuột cống trắng.
Đánh giá chất lượng nguyên liệu đầu vào, tối ưu hóa các thông số trong quá trình sản xuất, kiểm tra chất lượng của bán thành phẩm và thành phẩm, thực hiện nghiên cứu để xây dựng quy trình định lượng đồng thời 6-gingerol và 6-shogaol trong củ gừng.
Từ lá cây hồng (Diospyros kaki L.f.) thu hái tại Thừa Thiên Huế, bằng các phương pháp chiết khấu phân đoạn, các phương pháp sắc ký và phương pháp pháp phổ biến đã phân lập và xác định cấu trúc của 5 hợp chất triterpenoid gồm acid diospyric B (1), acid ursolic (2), acid pomolic (3), acid rotungenic (4) và acid oleanolic (5). Các triterpenoid này là các chất có hoạt tính sinh học tốt, kết quả mở ra cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về dược liệu này tại Việt Nam.
Nghiên cứu này được tiến hành với mục tiêu xây dựng được phương pháp xác định đồng thời dư lượng 9 thuốc BVTV thuộc 4 nhóm thường sử dụng trên rau ở tỉnh Vĩnh Long bằng phương pháp UPLC-MS/MS ở mức ppb.
Trình bày kết quả tổng hợp và thử hoạt tính kháng khuẩn, kháng nấm của một số dẫn chất trong đó có sự kết hợp benzothiazol với các cycloamin với hy vọng tìm được những chất có tác dụng sinh học tốt.
Xây dựng và thẩm định quy trình định tính, định lượng diosmectit trong thuốc hỗn dịch cho mục đích kiểm tra chất lượng dược chất này nhất là tại các cơ sở sản xuất dược.
Xác định khả năng gắn kết in silion của PBP2x ở S. pneumoniae với các kháng sinh cephalosporin thế hệ mới đồng thời tìm ra những chủng đột biến ở PBP2x có khả năng kháng lại các kháng sinh này.