Nghiên cứu này khảo sát các nhân tố tác động tới thanh khoản của hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2008-2015 gắn với giác độ sở hữu và niêm yết. Kết quả thực nghiệm cho thấy: (i) sở hữu nước ngoài tác động tích cực tới thanh khoản ngân hàng, trong khi tác động của tình trạng niêm yết theo chiều hướng ngược lại; (ii) tỷ suất sinh lời, tỷ lệ nợ xấu và tăng trưởng kinh tế làm suy giảm thanh khoản của ngân hàng nước ngoài, trong khi quy mô hoạt động có quan hệ phi tuyến đối với thanh khoản; (iii) với nhóm ngân hàng nhà nước, biên lãi ròng tác động tích cực tới thanh khoản, trong khi an toàn vốn, tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ nợ xấu và độ sâu tài chính có tác động tiêu cực; (iv) với ngân hàng niêm yết, nghiên cứu tìm thấy ảnh hưởng bất lợi của nợ xấu và tác động phi tuyến dạng chữ U ngược của quy mô hoạt động tới mức thanh khoản.
Tiình bày CPTPP và một số nội dung cam kết liên quan đến lĩnh vực tài chính ngân hàng; Cơ hội thách thức đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam khi gia nhập CPTPP; Một số đề xuất đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam khi gia nhập CPTPP.
Chương 1. Tiêu chí tiếp cận tín dụng theo tiêu chuẩn của ngân hàng thế giới và thực trạng điểm số tiếp cận tín dụng của Việt Nam theo đánh giá bởi ngân hàng thế giới; Chương 2. Khuyến nghị nhằm cải thiện điểm số tiếp cận tín dụng ở Việt Nam.
Mô phỏng chuỗi giá trị nông sản và những yêu cầu đặt ra cần giải quyết bằng tích hợp CN 4.0; Số hóa dịch vụ tài chính, ngân hàng cung cấp cho chuỗi giá trị nông sản và những lợi ích; Một số đề xuất kiến nghị.
Nhằm đảm bảo hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống vi phạm hành chính thì xử phạt hành chính được xem là một giải pháp hữu hiệu. Do đó, bên cạnh việc áp dụng các hình thức xử phạt để răn đen cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm hành chính, pháp luật còn áp dụng các biện pháp nhất định nhằm khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra. Bài viết phân tích sự chồng chéo, thiếu thống nhất giữa biện pháp khắc phục hậu quả với các hình thức xử phạt trong pháp luật Việt Nam.
Để đảm bảo cho việc thực thi các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đã bổ sung một số chương hoàn toàn mới ( Chương XXIX) gồm 16 điều ( từ Điều 431 đến 446) quy định về thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân thương mại. Trong bài viết này, tác giả đề cập đến một số vấn đề về thủ tục tố tụng đối với pháp nhân thương mại trong giai đoạn xét xử sơ thẩm tại tòa án.
“Chiến dịch” cắt giảm các điều kiện kinh doanh hiện nay ở Việt Nam đang đi vào giai đoạn cuối, tuy nhiên, hiệu quả thực thi trên thực tế lại không mấy khả quan bởi việc thực hiện mới chỉ mang tính chất cơ học, mệnh lệnh hành chính mà thiếu những căn cứ thực tiễn và pháp lý. Trước thực tế đó, bài viết cung cấp một số góc nhìn về các điều kiện kinh doanh và đưa ra một số khuyến nghị cho việc hoàn thiện pháp luật.
Trên cơ sở đề cập một số vấn đề pháp lý liên quan đến chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện, tác giả phân tích và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, cũng như góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện.
Hạn chế hay giới hạn quyền con người đã được ghi nhận và cụ thể hóa trong các điều ước quốc tế về nhân quyền. Những nội dung này tạo nên nhận thức chung về trách nhiệm bảo đảm quyền con người của các quốc gia cũng như khả năng miễn trách nhiệm đối với các quốc gia đó. Điều này được ghi nhận trong pháp luật các quốc gia, trong đó có Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam. Bài viết phân tích về vấn đề hạn chế quyền con người theo một số điều ước quốc tế cơ bản mà Việt Nam là thành viên.
Bài viết phân tích các cách tiếp cận trong giải thích điều ước quốc tế, chủ thể có thẩm quyền giải thích, và các quy định liên quan trong Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế năm 1969; đồng thời liên hệ với quy định về giải thích điều ước trong pháp luật Việt Nam.