Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải chịu sự chi phối mạnh mẽ của quy luật cạnh tranh, muốn tồn tại và phát triển các doanh nghiệp cần phải tối đa điểm mạnh của mình và hạn chế tối đa điểm yếu. Việc hoàn thiện dần doanh nghiệp này vô hình chung sẽ làm cho đối thủ dần yếu thế, trong một vài trường hợp nếu đối thủ không biết khắc phục tình trạng sẽ đối mặt với nguy cơ pahs sản.
Bài nghiên cứu này xem xét lần đầu tiên vai trò của hoạt động cải tiến đến khả năng tồn tại của các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam. Sử dụng bộ số liệu mảng trong giai đoạn 2009-2015, nghiên cứu chỉ ra rằng hoạt động cải tiến và đổi mới có ảnh hưởng tích cực đến khả năng tồn tại của doanh nghiệp. Một phát hiện quan trọng từ nghiên cứu của chúng tôi là bản chất của các khả năng sáng tạo và sự phối hợp có nguồn gốc trong việc phát triển cả khả năng đổi mới sản phẩm hiện có và đổi mới quy trình, đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì khả năng tồn tại của doanh nghiệp. Tuy thế, chúng tôi thấy rằng đổi mới sản phẩm không có tác động đến giảm nguy cơ đóng cửa các hoạt động của SME ở Việt Nam.
Hệ thống giáo dục đại học Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi từ hệ thống “Nhà nước kiểm soát” sang hệ thống “Nhà nước giám sát”. Cùng với quá trình này, các trường đại học từng bước trở thành các trường đại học tự chủ. Tự chủ của các trường đại học gắn chặt với trách nhiệm giải trình. Cách thức, phương pháp thực hiện trách nhiệm giải trình là đánh giá ngoài và kiểm định chất lượng giáo dục. Từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 5 năm 2018, cả nước có 117 trường đại học và học viện được kiểm chất lượng giáo dục.Bài viết này nhằm: (1) Khái quát lại kết quả kiểm định chất lượng giáo dục; (2) Đưa ra 3 nhược điểm chung nhất của các trường đại học; (3) Đưa ra những tồn tại và nguyên nhân ở 19 tiêu chí có từ 20% - 78% các trường đại học chưa đạt ở các tiêu chí này; (4) Đề xuất một số kiến nghị về công tác kiểm định chất lượng giáo dục đối với các bên có liên quan.
Bài viết sử dụng phương pháp định lượng, do Bloom & Van Reenen (2007) phát triển, để nghiên cứu thực hành quản lý trong doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ tại Thành phố Cần Thơ. Kết quả cho thấy doanh nghiệp có điểm thực hành quản lý trung bình rất thấp trong hoạt động giám sát, thiết lập mục tiêu và khuyến khích nhân lực. Kết quả cũng tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa thực hành quản lý và năng suất của doanh nghiệp và thực hành quản lý của doanh nghiệp phụ thuộc vào yếu tố cạnh tranh, sự phân quyền, nguồn vốn nhân lực và quy mô lao động.
Thực phẩm an toàn là nỗi lo thường trực của mọi người dân Việt Nam. Những năm qua, Nhà nước có nhiều chính sách hỗ trợ phát triển chuỗi cung ứng rau an toàn, nhưng kết quả còn khiêm tốn. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng kĩ thuật phân tích chuỗi giá trị do Tổ chức Phát triển Quốc tế của Anh (DFID) công bố năm 2008 (Making Markets Work Better for the Poor - M4P & DFID, 2008), để phân tích định tính và định lượng chuỗi cung ứng rau tại Đà Nẵng. Nghiên cứu đã mô tả được trạng thái chuỗi cung ứng rau ở Đà Nẵng; nhận diện và mô tả vai trò của các chủ thể trong chuỗi; nhận diện được thế yếu của nông hộ và vai trò quan trọng của hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp trong chuỗi rau an toàn; phân tích định lượng giá trị mà chuỗi cung ứng rau đem lại cho mỗi mắt xích và nhận diện được vấn đề cơ bản ngăn cản sự phát triển của chuỗi cung ứng rau an toàn, đó chính là giá trị mà các chủ thể nhận được trong chuỗi rau an toàn thấp hơn so với chuỗi rau thông thường.
Mô hình quyền chọn đã được ứng dụng để đo lường rủi ro tín dụng ở cấp độ doanh nghiệp nhưng ứng dụng tương tự trên quy mô quốc gia còn nhiều hạn chế, đặc biệt là đối với những thị trường tài chính còn non trẻ. Nghiên cứu này là một trong những công trình đầu tiên đánh giá độ tin cậy của phương pháp đo lường rủi ro quốc gia bằng mô hình quyền chọn (Contingent Claims Analysis – CCA) tại Đông Nam Á. Kết quả cho thấy kết quả của mô hình CCA phản ánh sát rủi ro quốc gia trong khoảng thời gian dài, đồng thời có thể đưa ra những dự báo định lượng về rủi ro vỡ nợ của một quốc gia trong ngắn hạn.
Mục tiêu của bài viết này là ước lượng các yếu tố khoảng cách quốc gia ảnh hưởng như thế nào đến thâm nhập tài sản địa phương của công ty đa quốc gia tại Việt Nam. Nghiên cứu giả thuyết rằng, khoảng cách văn hóa, thể chế, và kinh tế có ảnh hưởng nghịch biến đến thâm nhập tài sản địa phương của các công ty đa quốc gia. Sử dụng dữ liệu từ Ngân hàng thế giới điều tra các công ty con thuộc các công ty đa quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam và hồi quy tuyến tính để kiểm định các giả thuyết. Kết quả cho thấy rằng, khoảng cách văn hóa, thể chế giữa nước đầu tư và Việt Nam càng lớn thì việc thâm nhập tài sản địa phương của công ty đa quốc gia tại Việt Nam càng bị cản trở. Tuy nhiên, nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng thực nghiệm nào cho tác động của khoảng cách kinh tế đến thâm nhập tài sản địa phương. Một vài hàm ý quản trị cũng được đề nghị trong bài viết này.
"
/ Vũ Thị Thu Trà, Đào Trung Kiên, Nguyễn Ngọc Đạt// Kinh tế & phát triển.- 2018 .- Số 256 tháng 10 .- Tr.60-71
Nội dung: Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích đánh giá ảnh hưởng của các thuộc tính trong thông tin truyền miệng trực tuyến đến ý định lựa chọn điểm đến du lịch của du khách Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng điều tra bằng bảng hỏi có cấu trúc và các phân tích đa biến cho dữ liệu điều tra. Kết quả phân tích từ 495 người được khảo sát trên toàn quốc cho thấy ý định lựa chọn điểm đến chịu ảnh hưởng gián tiếp từ các nhân tố (1) chất lượng thông tin; (2) sự cần thiết của thông tin; (3) thái độ với thông tin; (4) sự hữu ích của thông tin; (5) tính tự chủ và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sự tiếp nhận thông tin.
Từ khoá: Thông tin truyền miệng trực tuyến, chất lượng thông tin, ý định lựa chọn điểm đến, sự cần thiết thông tin, tính tự chủ"
Sự đổi mới trong công việc của người lao động được xem là chìa khóa thành công của tổ chức, nhưng kích thích và khai thác tiềm năng đổi mới đó là một thách thức trong quản trị nhân sự. Nghiên cứu khám phá ảnh hưởng của các nhân tố thiết kế công việc, vốn tâm lý, sự trưởng thành trong công việc đến sự đổi mới trong công việc của người lao động trong các khách sạn và khu nghỉ dưỡng tại thành phố Nha Trang. Dựa trên dữ liệu thu thập từ 612 nhân viên, kết quả phân tích mô hình phương trình cấu trúc chỉ ra rằng vốn tâm lý và thiết kế công việc có ảnh hưởng trực tiếp tích cực đến sự đổi mới trong công việc của người lao động. Hơn nữa, hai nhân tố này còn giữ vai trò thúc đẩy sự trưởng thành trong công việc, và từ đó kích thích sự đổi mới trong công việc của họ. Vì vậy, nghiên cứu này có các hàm ý ứng dụng quan trọng nhằm hoàn thiện quản trị nguồn nhân lực hướng đến việc thúc đẩy phát triển các dịch vụ mang tính sáng tạo tại các khách sạn và khu nghỉ dưỡng tại thành phố Nha Trang.
Khám phá mối quan hệ giữa chất lượng website, ấn tượng thương hiệu, chất lượng cảm nhận và lòng trung thành thương hiệu trong lĩnh vực ngân hàng. Dữ liệu nghiên cứu được thu thấp theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp 225 khách hàng có giao dịch trực tuyến với hệ thống ngân hàng thông qua website. Ứng dụng phương pháp PLS-SEM, kết quản nghiên cứu cho thấy, chất lượng website tác động tích cực đến ấn tượng thương hiệu và chất lượng cảm nhận.