Hiện tượng suy giảm khối lượng giao dịch và thời gian rao bán kéo dài trên thị trường nhà ở trong điều kiện giá nhà giảm khi thị trường nhà ở đi xuống đã được nhiều nhà nghiên cứu thực nghiệp phát hiện. Sau đó, một số mô hình lý thuyết đã được phát triển để tìm ra nguyên nhân của hiện tượng này như là mô hình giới hạn tiền đặt cọc của Stein (1995), tâm lý đánh giá cao hiện tại của Sun và Seiler (2013) và trong đó quan trọng nhất là lập luận về tâm lý lo sợ thua lỗ do Genesove và Mayer (2001) đưa ra dự trên lý thuyết triển vọng của Kahneman và Tversky (1979, 1991). Tuy nhiên, Buisson (2016) không đồng ý với lập luận này của Genesove và Mayer (2001), ông đã phát triển mô hình lý thuyết tìm kiếm của người bán chứng minh rằng tâm lý lo sợ thua lỗ không phải là nguyên nhân của hiện tượng sụt giảm khối lượng giao dịch nhà ở và khi thị trường có sự sụt giảm giá nhà, và ông đề nghị tìm một nguyên nhân khác cho hiện tượng này. Trong bài nghiên cứu này, tác giả mở rộng kết quả của Buisson (2016) bằng cách phát triển một mô hình tìm kiếm của người mua nhà với tâm lý lo sợ thua lỗ nhằm xem xét tác động của tâm lý này lên hành vi của người mua nhà. Kết quả mô hình cho thấy rằng khi thị trường nhà ở tăng trưởng hoặc chỉ giảm nhẹ thì hành vi của người mua nhà không chịu ảnh hưởng của yếu tố tâm lý lo sợ thua lỗ. Ngược lại, khi thị trường sụt giảm mạnh thì yếu tố tâm lý so sợ thua lỗ lại có tác động khuyến khích người mua dễ tính hơn trong việc mua nhà và rút ngắn thời gian tìm kiếm. Nguyên nhân do giả định không cho phép tái thương lượng nên kéo dài việc tìm kiếm sẽ làm cho người mua nhà mất đi những cơ hội đầu tư tốt khi căn nhà là đáng mua (lợi ích vượt ngưỡng) và giá đang thấp. Như vậy, cùng với kết quả của Buisson (2016), bài nghiên cứu kết luận rằng tâm lý lo sợ thua lỗ không phải là nguyên nhân của hiện trường suy giảm khối lượng giao dịch trên thị trường nhà ở khi giá nhà sụt giảm trong giai đoạn thị trường nhà ở đi xuống, và do đó cần phải tìm một nguyên nhân khác cho hiện tượng này.
Tổng quan về chuẩn mực báo cáo tài chính số 16; tác động của IFRS 16 đến kế toán thuế tài sản; nâng cáo trách nhiệm giải trình trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp; định hướng vận dụng IFRS 16 trong thời gian tới.
Phân tích phương pháp phân loại chi phí trong kế toán quản trị và mức độ áp dụng một số phương pháp hạch toán chi phí trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.
Trình bày kiểm soát thanh toán theo nguyên tắc "" thanh toán trước, kiểm soát sau""; kiểm soát thanh toán vốn đầu tư trong trường hợp chủ đầu tư uỷ thác quản lý dự án; vấn đề về tạm giữ tiền, chưa thanh toán để phục vụ công tác quyết toán công trình.
Đánh giá về những đổi mới quan trọng tại Nghị định này và những kết quả đạt được ban đầu trong quá trình triển khai, bài viết đưa ra một số giải pháp để triển khai mạnh mẽ, hiệu quả cơ chế tự chủ tại các đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP.
Nghiên cứu này kiểm định tác động của tự do hóa tài chính đến yêu cầu về tài sản thế chấp của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các quốc gia đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á.
Trao đổi những tác động cơ bản của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đến phương thức giảng dạy ngoại ngữ, đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả về giảng dạy ngoại ngữ, tận dụng hiệu quả những lợi ích mà cuộc cách mạng này mang lại.
Nghiên cứu này phân tích các yếu tố tác động đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Bài viết sử dụng mô hình Durbin không gian (Spatial Durbin Model - SDM) để phân tích bộ dữ liệu được trích xuất từ niên giám thống kê các tỉnh thành khu vực nghiên cứu. Kết quả cho thấy các tỉnh, thành khu vực này không chỉ tương tác không gian với nhau mà còn cạnh tranh nhau trong việc thu hút FDI. Đồng thời, các yếu tố như quy mô thị trường, chi phí lao động, mức độ quần tụ doanh nghiệp, chất lượng kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến dòng vốn FDI tại địa phương và gián tiếp đến vốn FDI của địa phương lân cận.