CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Đánh giá tính kháng bệnh đạo ôn của một số mẫu giống lúa nhập nội từ Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) tại Việt Nam / Trần Đức Trung, Tạ Hồng Lĩnh, Bùi Quang Đãng, Lê Hùng Lĩnh // Khoa học Công nghệ Việt Nam - B .- 2019 .- Số 9 (Tập 60) .- Tr.25 – 30 .- 600
Khai thác tiềm năng tính kháng của cây lúa là một trong những phương án hiệu quả trong quản lý đạo ôn, bệnh hại nguy hiểm do nấm Magnaporthe oryzae gây ra. Tuy nhiên, tính kháng đạo ôn có xu hướng không bền vững, thường bị phá vỡ dưới áp lực bệnh trong điều kiện đồng ruộng do sự biến đổi rất nhanh chóng về di truyền và độc tính của các nòi nấm đạo ôn. Vì vậy việc đánh giá, xác định các nguồn gen lúa thể hiện tính kháng hiệu quả với các nòi nấm đạo ôn phục vụ chọn tạo giống kháng phù hợp cho từng vùng sinh thái được xác định là công tác thường xuyên. Trong nghiên cứu này, 40 mẫu giống lúa triển vọng kháng đạo ôn tại Phillipine đã được sàng lọc phản ứng bệnh gây ra bởi 12 nòi nấm M. oryzae đặc trưng cho các vùng sinh thái trong cả nước. Mặc dù toàn bộ các mẫu giống nhiễm với các nòi nấm đạo ôn phía Nam nhưng đối với phía Bắc đã xác định được 20 mẫu giống kháng tốt với 10/10 nòi nấm đạo ôn. Đây là nguồn vật liệu quý phục vụ cho công tác chọn tạo giống lúa kháng đạo ôn bền vững ở Việt Nam.
2 Đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc ở Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, TP Đà Nẵng / Tôn Nữ Thị Như Quỳnh, Trương Thị Đẹp, Đặng Văn Sơn // Khoa học Công nghệ Việt Nam - B .- 2018 .- Số 9 (Tập 60) .- Tr. 20 – 24 .- 615
Kết quả nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc ở Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Sơn Trà, TP Đà Nẵng đã xác định được 657 loài, 396 chi, 133 họ thuộc 5 ngành thực vật bậc cao có mạch, bao gồm Lá thông (Psilotophyta), Thông đất (Lycopodiophyta), Dương xỉ (Polypodiophyta), Thông (Pinophyta) và Ngọc lan (Magnoliophyta). Trong đó, 16 loài có giá trị bảo tồn theo thang đánh giá của Sách đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục đỏ của IUCN (2017). Hình thức sử dụng cây thuốc cũng được chia làm 3 nhóm gồm: chia theo bộ phận dùng, phương thức sử dụng và nhóm bệnh chữa trị. Dạng sống của cây thuốc được chia làm 7 nhóm, bao gồm: cây thân thảo có 178 loài (chiếm 27,1%), cây bụi có 139 loài (21,2%), dây leo có 122 loài (18,6%), cây gỗ lớn có 65 loài (9,9%), cây gỗ nhỏ có 138 loài (21%), bán ký sinh có 9 loài (1,4%) và phụ sinh có 6 loài (0,9%).
3 Ảnh hưởng của việc bổ sung bột bã nghệ sau tách chiết curcumin trong khẩu phần tới sức sản xuất thịt và độ vàng da của gà thịt JA-DABACO / Cù Thị Thiên Thu, Vũ Thị Ngân, Bùi Quang Tuấn // Khoa học Công nghệ Việt Nam - B .- 2018 .- Số 9 (Tập 60) .- Tr. 36 – 41 .- 615
Thí nghiệm (TN) được tiến hành để đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung bã nghệ (sau tách chiết curcumin) ở 2 mức khác nhau đến sức sản xuất thịt và độ vàng da của gà JA-DABACO. TN chia làm 3 lô, mỗi lô 30 con, lặp lại 3 lần. Lô đối chứng (ĐC) chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh theo các giai đoạn tuổi. Lô TN1 bổ sung bã nghệ ở mức 3%. Lô TN2 bổ sung bã nghệ ở mức 5%. Kết quả cho thấy, việc bổ sung bã nghệ vào khẩu phần đã làm tăng tỷ lệ nuôi sống (lô ĐC đạt tỷ lệ 94,73%, lô TN1 đạt tỷ lệ 99,78% và lô TN2 đạt tỷ lệ 99,88%), tăng khối lượng cơ thể (khối lượng cơ thể gà tại 10 tuần tuổi ở lô ĐC, lô TN1 và lô TN2 lần lượt là 1173,3; 1273,3 và 1356,72 g/con), đồng thời làm tăng màu sắc da gà một cách rõ rệt (từ 2,67 ở lô ĐC đến 3,2 và 3,9 đơn vị Roche ở lô TN1, 2). Kết quả nghiên cứu này mở ra tiềm năng có thể sử dụng bã nghệ sau tách chiết curcumin trong khẩu phần thức ăn chăn nuôi gà nhằm tăng tốc độ sinh trưởng, cũng như cải thiện màu sắc của da gà.
4 Phân lập và tuyển chọn các chủng vi khuẩn axit lactic và vi khuẩn axit acetic tham gia vào quá trình lên men hạt ca ca / Võ Thị Thúy Huệ, Trần Thị Quỳnh Diệp, Nguyễn Minh Quang // Khoa học Công nghệ Việt Nam - B .- 2018 .- Số 8 (Tập 60) .- Tr.55 – 59 .- 500
Phân lập và tuyển chọn một số chủng vi khuẩn axit lactic, vi khuẩn acetic tham gia vào quá trình lên men hạt ca cao tự nhiên để sản xuất chế phẩm vi khuẩn bổ sung vào quá trình lên men, giúp ổn định và nâng cao chất lượng sản phẩm ca cao sau lên men.
5 Quá trình oxy hoá nâng cao dựa trên cơ sở ozon và một số ứng dụng xử lý nước rỉ rác / Nguyễn Thị Khuy // .- 2018 .- Số 23 (301) .- Tr. 12 - 14 .- 621
Trình bày quá trình oxy hoá nâng cao dựa trên cơ sở ozon và một số ứng dụng xử lý nước rỉ rác.
6 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố tới quá trình xử lý 2,4-D và 2,4,5-T trong dung dịch bằng Feo nano / Phạm Việt Đức, Lê Đức, Đỗ Đăng Hưng, Phạm Quốc Việt // Khoa học Công nghệ Việt Nam - B .- 2018 .- Số 10 (Tập 60) .- Tr. 58 – 62 .- 500
Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình xử lý 2,4-D và 2,4,5-T trong dung dịch bằng Feo Nano như: điều kiện pH từ 3 đến 7, thời gian từ 1h đến 1 tuần sau khi phản ứng, tỷ lệ hàm lượng Feo nano so với 2,4-D và 2,4,5-T từ 20 đến 100%.
7 Thực trạng ứng dụng mô hình toán trong nghiên cứu khoa học biển và đề xuất quy trình ứng dụng mô hình toán phù hợp / // .- 2018 .- Số 23 (301) .- Tr. 15 - 16 .- 621
Đánh giá hiện trạng và những hạn chế, bất cập từ đó đề xuất được quy trình ứng dụng mô hình toán chung trong nghiên cứu khoa học biển.
8 Đề xuất giải pháp nén ảnh và xử lý ảnh trong miền toàn quang sử dụng biến đổi HAAR để xử lý dữ liệu ảnh kích thước lớn / Bùi Thị Thuỳ // .- 2018 .- Số 23 (301) .- Tr. 17 - 18 .- 621
Bài báo tập trung vào trình bày thiết kế cấu trúc mạng 3D bất đối xứng và tối ưu hoá, biến đổi Haar, bao gồm việc nén ảnh để xử lý những dữ liệu ảnh kích thước lớn như ảnh vệ tinh.
9 Nghiên cứu ảnh hưởng của áp cao Siberia và nhiễu động sóng đông đến lượng mưa khu vực Trung Trung Bộ / Trần Chấn Nam // .- 2018 .- Số 23 (301) .- Tr. 19 - 20 .- 621
Bài báo nghiên cứu ảnh hưởng của áp cao Siberia và nhiễu động sóng đông đến lượng mưa khu vực Trung Trung Bộ.
10 Đánh giá ảnh hưởng chiều sâu hồ sinh học phủ hệ thực vật cỏ Lông Tây đến hiệu quả xử lý nước thải công nghiệp / // Tài nguyên & Môi trường .- 2018 .- Số 23 (301) .- Tr. 21 - 23 .- 628.2
Nghiên cứu ảnh hưởng chiều sâu hồ sinh học phủ hệ thực vật Cỏ Lông Tây đến hiệu quả xử lý nước thải công nghiệp với mong muốn đóng góp một phần khoa học để hoàn thiện và phát triển hướng nghiên cứu của hệ thực vật này vào việc giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường và phát triển bền vững kinh tế xã hội.