Phân tích như cầu nguồn nhân lực trong lĩnh vực thương mại điện tử Việt Nam, bài viết nhận diện những tồn tại, thách thức và đề xuất một số giải pháp để phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực này thời gian tới.
Dịch vụ hành chính công là một dịch vụ tối quan trọng của bất kỳ quốc gia nào. Chất lượng dịch vụ hành chính công có liên quan trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Sớm nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, nhiệm kỳ của Chính phủ Việt Nam giai đoạn 2016-2021 đưa ra chủ thuyết “xây dựng một Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động quyết liệt, phục vụ người dân và doanh nghiệp”. Trên thực tế, từ lâu, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức được vấn đề này. Các Chính phủ tiền nhiệm, đã thực hiện nhiều lần công cuộc đổi mới và cải cách thủ tục hành chính, nhưng sự tiến triển không như mong đợi của người dân và doanh nghiệp. Ngay tại thời điểm hiện nay, để biến chủ thuyết của Chính phủ như trên trở thành hiện thực, Thủ tướng đã thành lập tổ công tác do Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ đứng đầu thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương “đơn giản hóa” thủ tục hành chính, nhưng một Chính phủ “kiến tạo, liêm chính, hành động và phục vụ” vẫn chưa thấy “hình hài” rõ nét. Làm gì để cải cách thật sự việc nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ hành chính công ở Việt Nam hiện nay? Trên cơ sở đánh giá thực trạng cung ứng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam hiện nay, khái quát hóa các công trình đã nghiên cứu và các giải pháp đã đề xuất, bài viết này sẽ tập trung vào một hướng tiếp cận mới – tiếp cận từ đặc trưng của marketing dịch vụ hành chính công trong bối cảnh một đảng cộng sản lãnh đạo và cầm quyền nhằm tăng thêm luận cứ khoa học cho việc quyết tâm thực hiện bằng được những giải pháp đã có và có thể gợi ý những giải pháp hiệu quả hơn, trúng hơn cho việc đổi mới cung cấp dịch vụ hành chính công ở Việt Nam hiện nay.
Bài báo này nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu. Sử dụng dữ liệu của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội trong khoảng thời gian 2007-2017, kết quả nghiên cứu cho thấy quản trị lợi nhuận có quan hệ thuận chiều với tính thông tin của giá cổ phiếu. Kết quả này phù hợp với giả thuyết rằng các nước đang phát triển với môi trường thể chế, môi trường thông tin đang trong quá trình hoàn thiện và việc bảo vệ nhà đầu tư chưa được thực sự hiệu quả, mức độ quản trị lợi nhuận càng lớn thì thông tin được chuyển hóa vào giá cổ phiếu thông qua giao dịch của các đối tượng trong nội bộ công ty càng nhiều. Do vậy, quản trị lợi nhuận sẽ làm tăng tính thông tin của giá cổ phiếu.
Bài viết sử dụng dữ liệu khảo sát các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của đặc điểm doanh nghiệp và đặc điểm của chủ doanh nghiệp lên tốc độ tăng trưởng. Kết quả chỉ ra rằng quy mô doanh nghiệp có quan hệ ngược chiều với tốc độ tăng trưởng, cho thấy sự không phù hợp của Quy luật Gibrat. Đòn bẩy tài chính, chất lượng lao động, hoạt động đào tạo và hoạt động xuất nhập khẩu góp phần thúc đẩy tăng trưởng, trong khi số năm hoạt động có quan hệ ngược chiều với tốc độ tăng trưởng. Tuổi của chủ doanh nghiệp có quan hệ ngược chiều với tốc độ tăng trưởng. Ngoài ra, giới tính và học vấn cũng ảnh hưởng đến tăng trưởng. Doanh nghiệp được lãnh đạo bởi nữ giới có tốc độ tăng trưởng cao hơn doanh nghiệp được lãnh đạo bởi nam giới. Học vấn của chủ doanh nghiệp cũng góp phần thúc đẩy tăng trưởng.
Nghiên cứu kiểm định mối quan hệ giữa cảm nhận tham nhũng, chuẩn chủ quan và dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên Việt Nam. Với dữ liệu thu được từ 289 sinh viên tại các tỉnh Miền Bắc Việt Nam, tác giả sử dụng phương pháp định lượng bao gồm một số công cụ thống kê mô tả, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích mối quan hệ tương quan, phân tích hồi quy tuyến tính để đánh giá tác động của cảm nhận tham nhũng tới chuẩn chủ quan và dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng “chuẩn chủ quan” ảnh hưởng mạnh nhất và thuận chiều tới dự định khởi sự kinh doanh. Đáng ngạc nhiên rằng “cảm nhận tham nhũng” cũng có ảnh hưởng mạnh và thuận chiều tới dự định khởi sự kinh doanh sinh viên Việt Nam. Ngoài ra, “cảm nhận tham nhũng” cũng có ảnh hưởng gián tiếp thuận chiều tới “dự định khởi sự kinh doanh” qua biến trung gian “chuẩn chủ quan”.
Từ tổng quan nghiên cứu ứng dụng mô hình Thẻ điểm cân bằng (BSC), bài viết đã đề xuất mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của các nhóm nhà quản trị đến phân tầng BSC. Kết quả áp dụng mô hình này để đo lường ảnh hưởng của các nhóm nhà quản trị đến phân tầng BSC tại Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông (VNPT-Vinaphone) cho thấy nhóm nhà quản trị cấp cao có ảnh hưởng chính yếu đến phân tầng BSC thành công, tiếp theo là nhóm BSC và nhóm nhà quản trị cấp trung. Các kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần củng cố quan điểm chung của nhiều nhà nghiên cứu, mà còn cung cấp sở cứ cho các nhà quản trị VNPT- Vinaphone bố trí nguồn lực phù hợp, tăng cường mức độ tham gia nhằm ứng dụng BSC thành công tại doanh nghiệp; cũng như góp phần định hướng cho các nhà quản trị doanh nghiệp nói chung triển khai ứng dụng thành công mô hình Thẻ điểm cân bằng.
Nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới về xây dựng chiến lược thúc đẩy sự phát triển của các công ty Fintech. Từ đó, bài viết tổng hợp một số thông lệ quốc tế phổ biến, được sử dụng hiệu quả tại nhiều quốc gia làm bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Hiện tượng suy giảm khối lượng giao dịch và thời gian rao bán kéo dài trên thị trường nhà ở trong điều kiện giá nhà giảm khi thị trường nhà ở đi xuống đã được nhiều nhà nghiên cứu thực nghiệp phát hiện. Sau đó, một số mô hình lý thuyết đã được phát triển để tìm ra nguyên nhân của hiện tượng này như là mô hình giới hạn tiền đặt cọc của Stein (1995), tâm lý đánh giá cao hiện tại của Sun và Seiler (2013) và trong đó quan trọng nhất là lập luận về tâm lý lo sợ thua lỗ do Genesove và Mayer (2001) đưa ra dự trên lý thuyết triển vọng của Kahneman và Tversky (1979, 1991). Tuy nhiên, Buisson (2016) không đồng ý với lập luận này của Genesove và Mayer (2001), ông đã phát triển mô hình lý thuyết tìm kiếm của người bán chứng minh rằng tâm lý lo sợ thua lỗ không phải là nguyên nhân của hiện tượng sụt giảm khối lượng giao dịch nhà ở và khi thị trường có sự sụt giảm giá nhà, và ông đề nghị tìm một nguyên nhân khác cho hiện tượng này. Trong bài nghiên cứu này, tác giả mở rộng kết quả của Buisson (2016) bằng cách phát triển một mô hình tìm kiếm của người mua nhà với tâm lý lo sợ thua lỗ nhằm xem xét tác động của tâm lý này lên hành vi của người mua nhà. Kết quả mô hình cho thấy rằng khi thị trường nhà ở tăng trưởng hoặc chỉ giảm nhẹ thì hành vi của người mua nhà không chịu ảnh hưởng của yếu tố tâm lý lo sợ thua lỗ. Ngược lại, khi thị trường sụt giảm mạnh thì yếu tố tâm lý so sợ thua lỗ lại có tác động khuyến khích người mua dễ tính hơn trong việc mua nhà và rút ngắn thời gian tìm kiếm. Nguyên nhân do giả định không cho phép tái thương lượng nên kéo dài việc tìm kiếm sẽ làm cho người mua nhà mất đi những cơ hội đầu tư tốt khi căn nhà là đáng mua (lợi ích vượt ngưỡng) và giá đang thấp. Như vậy, cùng với kết quả của Buisson (2016), bài nghiên cứu kết luận rằng tâm lý lo sợ thua lỗ không phải là nguyên nhân của hiện trường suy giảm khối lượng giao dịch trên thị trường nhà ở khi giá nhà sụt giảm trong giai đoạn thị trường nhà ở đi xuống, và do đó cần phải tìm một nguyên nhân khác cho hiện tượng này.
Tổng quan về chuẩn mực báo cáo tài chính số 16; tác động của IFRS 16 đến kế toán thuế tài sản; nâng cáo trách nhiệm giải trình trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp; định hướng vận dụng IFRS 16 trong thời gian tới.
Phân tích phương pháp phân loại chi phí trong kế toán quản trị và mức độ áp dụng một số phương pháp hạch toán chi phí trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.