Hệ thống kế tán quản trị có vai trò rất quan trọng, trong việc cung cấp thông tin cho nhà quản trị ra quyết định kinh doanh trong đơn vị. Đặc biệt, nước ta trong quá trình hội nhập thì doanh nghiệp có nhiều thuận lợi hơn, nhưng đồng thời cũng này sinh nhiều cạnh tranh. Đòi hỏi, các nhà quản trị phải có những chiến lược và tư duy nhạy bén, để ra những quyết định nhanh và chính nhằm không bỏ lỡ cơ hội cho doanh nghiệp, trong đó ngành dệt may cũng không là ngoại lệ. Để đáp ứng mục tiêu này, đòi hỏi những thông tin cung cấp cho nhà quản trị phải nhanh, kịp thời, chính xác và hiệu quả ngày càng được chú trọng. Muốn làm được những điều đó, đòi hỏi các công ty sản xuất nói chung, các công ty sản xuất ngành dệt may nối riêng, phải thiết kế hệ thống kế toán quản trị tốt và phù hợp với cơ cấu tổ chức của đơn vị để cung cấp thông tin kịp thời hỗ trợ việc ra quyết định của nhà quản lý. Trong bài viết này, tác giả sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, nhằm nghiên cứu sự tác động của các yếu tố đến việc thiết kế hệ thống kế toán quản trị tại các doanh nghiệp sản xuất ngành dệt may trên TP Hồ Chí Minh nhằm đề xuất những định hướng để xây dựng hệ thống kế toán quản trị cho phù hợp với đơn vị.
Kết thúc mỗi cuộc kiểm toán, kiểm toán viên phải đưa các ý kiến đánh giá và xác nhận về các thông tin được kiểm toán. Thực tế cho thấy, có nhiều cuộc kiểm toán do giới hạn về số lượng cũng như độ tin cậy của các bằng chứng kiểm toán thu thập dẫn đến kiểm toán viên từ chối đưa ra ý kiến, đưa ra ý kiến loại trừ hoặc có ý kiến đưa ra không chính xác đối với các thông tin được kiểm toán, điều đó gây phiền toái đến các đối tượng quan tâm, sử dụng các thông tin. Vì vậy, trong hoạt động kiểm toán, kiểm toán viên cần áp dụng có hiệu quả các kỹ thuật thu thập bằng chứng, để đưa ra những ý kiến có độ tin cậy cao nhất về các thông tin Tài chính - Kế toán.
Đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nếu chỉ dựa trên chỉ số tài chính thì nó sẽ không phản ánh được một cách toàn diện và đầy đủ. vì vậy, nếu các nàh quản trị muốn có được bức tranh chân thực về chiến lược phát triển bền vững, cần phải tìm ra một công cụ đánh giá hiệu quả hoạt động dựa trên cả các chỉ số tài chính và phi tài chính. Để đạt được mục tiêu đề ra, bài viết nghiên cứu về việc đánh giá hiệu quả hoạt động tại Công ty cổ phần May Nam Hà. Từ đó, tác giả đề xuất một mô hình đánh giá hiệu quả phù hợp cho Công ty cổ phần May Nam Hà.
Thông tin kế toán đóng một vai trò hết sức quan trọng, đối với việc ra quyết định kinh tế của những người sử dụng Báo cáo tài chính, đặc biệt là những nhà đầu tư. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy, những người sử dụng và cả người lập báo cáo tài chính chưa thực sự quan tâm đến chất lượng thông tin cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin, trình bày trên các báo cáo tài chính. Mục tiêu của nghiên cứu này là, nhằm xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng thông tin kế toán trình bày trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là kiểm định thang đo bằng hệ số Cronbach - Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan, xây dựng mô hình hồi quy và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 5 nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán trình bày trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết gồm: Nhà quản trị doanh nghiệp; Lợi ích và chi phí khi lập báo cáo tài chính; Thuế; Lập và trình bày báo cáo tài chính; Rủi ro kiểm toán báo cáo tài chính.
Theo Thông tư 202/2014/TT-BTC, ban hành ngày 22/12/2014 quy định: Lãi từ giao dịch mua giá rẻ là khoản chênh lệch giữa giá phí khoản đầu tư vào công ty con nhỏ hơn phần sở hữu của công ty mẹ trong giá trị hợp lý của tài sản thuần của công ty con tại ngày mua (thuật ngữ này trước đây gọi là bất lợi thương mại hoặc lợi thế thương mại âm).
Nghiên cứu được thực hiện với sản xuất cây vụ đông của các hộ nông dân tỉnh Thái Bình nhằm: (i) Phân tích hiệu quả sản xuất cây vụ đông cho đề xuất một số biện pháp nâng cao hơn hiệu quả sản xuất; (ii) Trình bày việc vận dụng hệ thống tài khoản quốc gia để phân tích với hộ nông dân. Nghiên cứu chỉ ra với hộ nông dân có thể đánh giá hiệu quả sản xuất theo ba hệ thống tính toán khác nhau, trong đó hệ thống tài khoản quốc gia (SNA). Qua điều tra, 240 hộ nông dân với 5 cây trồng cho thấy, hiệu quả sử dụng đất thì cây ớt cao nhất, hiệu quả chi phí và lao động thì cây bắp cải cao nhất.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới khẳng định rằng thành công của một luận văn thạc sỹ hay luận án tiến sỹ hay những kỹ năng nghiên cứu độc lập và học viên cao học hay nghiên cứu sinh đạt được thông qua quá trình đào tạo sau đại học, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có vai trò của người hướng dẫn khoa học. Đáng tiếc, quá trình hướng dẫn thạc sỹ và tiến sỹ vẫn chưa được chú ý nghiên cứu ở Việt Nam, và sự hiểu biết của chúng ta về tầm quan trọng của những lời góp ý, nhận xét của người hướng dẫn khoa học thực sự còn rất hạn chế. Dựa trên 418 lời nhận xét trong các bản thảo lần thứ nhất của 10 luận văn cao học và luận án tiến sỹ thuộc lĩnh vực ngôn ngữ học, bài viết sẽ phân tích và trình bày những kết quả nghiên cứu bước đầu về những tiêu điểm và chức năng của những lời nhận xét này.
Bài viết xác lập một hệ thống chuẩn mực của phương ngữ Nam ở cấp độ ngữ âm, cụ thể là giọng nói yếu tố đầu tiên để nhìn nhận về một phương ngữ nói chung, với các bình diện của âm tiết như thanh điệu, âm đầu, âm đệm, âm chính và âm cuối. Hi vọng kết quả này bước đầu góp một phần nhỏ vào việc định hình một siêu phương ngữ Nam trên các phương tiện truyền thanh, truyền hình theo hướng đa dạng và thống nhất trong những nét lớn.
Bài viết cố gắng tìm câu trả lời cho câu hỏi làm thế nào và tại sao tiếng Anh lại trở thành một ngôn ngữ toàn cầu? Dựa vào kết quả của các nghiên cứu đi trước và đặc biệt là quan điểm của David Crystal, bài viết đi sâu phân tích các sự kiện lịch sử, phân bố địa lý, các nhân tố xã hội, văn hoá liên quan đến việc mở rộng phạm vi sử dụng của tiếng Anh vào mọi lính vực trên thế giới chủ yếu từ thế kỉ 17 đến thế kỉ 20. Ngoài ra bài viết cũng đề xuất những nghiên cứu tiếp theo liên quan đến tác động tiêu cực và những mặt trái của ngôn ngữ toàn cầu.
Bài viết chỉ ra đặc trưng văn hoá dân tộc thể hiện qua các phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ của tên gọi trang phục trong tiếng Việt và tiếng Anh. Quá trình so sánh và đối chiếu những cơ chế nổi bật nhất của hai phương thức này cho thấy các dân tộc khác nhau sẽ có những tư duy liên tưởng không giống nhau. Sự liên tưởng trong quá trình chuyển nghĩa bị quy định bởi các điều kiện địa lý, lịch sử, văn hoá và tâm lí cụ thể của mỗi dân tộc. Điều đó khiến cho các phương thức chuyển nghĩa có những cơ chế chuyển nghĩa riêng rất đa dạng, mang tính phổ biến và tính đặc thù dân tộc.