Khảo sát đặc điểm lâm sàng, X quang và đánh giá kết quả điều trị nội nha tổn thương quanh chóp răng trên 74 bệnh nhân tại trường Đại học Y dược Cần Thơ từ 11/2015 đến 6/2017. Kết quả cho thấy có 32,6 răng đổi màu, 73,9 phần trăm gõ dọc đau, 18,5 phần trăm răng lung lay, 45,7 phần trăm có lỗ dò hoặc sẹo dò, 42,4 phần trăm sưng viêm niêm mạc. Đặc điểm X quang gồm điểm PAI 4 chiếm đa số với 62 phần trăm, tỷ lệ tổn thương nhỏ hơn 5mm là 56,5 phần trăm, từ 5-10mm là 43,5 phần trăm. Đa số tổn thương có dạng hình liềm với 39,1 phần trăm, ranh giới không rõ với 80,4 phần trăm. Kết quả điều trị ban đầu tốt là 91,3 phần trăm. Điều trị sau 6 tháng có tỷ lệ hồi phục là 70,7 phần trăm.
Suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) và sa sút trí tuệ giai đoạn nhẹ (MD) là những vấn đề thường gặp ở người cao tuổi. Các bác sĩ gia đình chính là người đầu tiên tiếp xúc hầu hết các bệnh nhân với những rối loạn này và cần phải làm quen với chẩn đoán, tiên lượng và quản lý bệnh nhân. Cả hai MCI và Md đều có bằng chứng khách quan về suy giảm nhận thức. Sự khác biệt chính giữa MCI và MD là ở giai đoạn sau, có liên quan nhiều hơn một lĩnh vực nhận thức và gây ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động sông hàng ngày. Chẩn đoán MCI và MD chủ yếu dựa vào bệnh sử và kiểm tra nhận thức. Tiên lượng về MCI và MD là động lực quan trọng để chẩn đoán, khi cả hai, đều có nguy cơ cao về suy giảm nhận thức hơn nữa. Nguyên nhân của MCI và MD thường có thể được thiết lập thông qua khám lâm sàng mặc dù cũng cần hình ảnh học và các xét nghiệm khác. Ngoài bệnh Alzheimer (AD) là nguyên nhân phổ biến nhất của cả hai MCI và MD, bệnh lý mạch máu não và bệnh thể Lewy cũng có vai trò quan trọng. Điều trị bằng thuốc có giá trị khiêm tốn trong AD giai đoạn nhẹ và không có thuốc nào được chấp thuận cho điều trị MCI do bất kỳ nguyên nhân nào. Tuy nhiên, suy giảm nhận thức mới bắt đầu là một triệu chứng đáng lo ngại cho cả bệnh nhân và gia đình và cần phải có câu trả lời và lời khuyên của bác sĩ. Nếu bệnh nhân không thể tự uống thuốc và gặp khó khăn trong quản lý tài chính hoặc ở chuyển độc lập, chẩn đoán và điều trị là cần thiết để đảm bảo sức khỏe và sự an toàn của bệnh nhân.
60 chuột nhắt được chia làm 4 lô, 1 lô cấy di truyền tế bào u sarcoma 180 được điều trị bằng cốm cây sói rừng liều 5g/kg cân nặng/ngày, 1 lô chứng sinh học, 1 lô chứng cấy truyền tế bào u sarcoma 180 không điều trị gì và 1 lô chứng được điều trị bằng thuốc 6-MP liều 48mg/kg/ngày. Kết quả cho thấy cây cốm sói rừng liều 5g/kg thể trọng đã kéo dài thời gian sống thêm cho chuột mang khối u sarcoma 180 so với lô ung thư không được điều trị và lô ung thư điều trị bằng 6-MP.
Sàng lọc các biến đổi trên gen COX-2 ty thể ở 93 mẫu mô u, 13 mẫu máu của bệnh nhân ung thư đại trực tràng và 83 mẫu máu của người khỏe mạnh làm đối chứng. Phát hiện được 13 biến đổi thuộc gen COX-2 ty thể, trong đó có 5 biến đổi làm thay đổi axit amin. Xác định được biến đổi G7853A trên gen COX-2 ty thể ở mô u, mẫu máu của bệnh nhân ung thư đại trực tràng và mẫu máu đối chứng với tỷ lệ 20,4 phần trăm, 23,1 phần trăm và 19,3 phần trăm tương ứng và là dạng đột biến sôma.
Đánh giá tác dụng giảm đau và cải thiện các triệu chứng cơ năng của cao UP1 trên 30 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ hóa trị theo phác đồ Paclitaxel Carboplatin kết hợp uống cao lỏng UP1 90 ml/ngày với nhóm chứng 30 bệnh nhân hóa trị theo phác đồ Paclitaxel Carboplatin. Kết quả cho thấy các triệu chứng cơ năng và điểm đau VAS giảm có ý nghĩa so với trước điều trị và so với nhóm chứng.
Giới thiệu một số mô hình tính tốc độ thấm của clorua từ môi trường vào vật liệu bê tông xi măng và khả năng vận dụng các mô hình trong điều kiện Việt Nam.
Giới thiệu thí nghiệm, phân tích các chỉ tiêu cường độ của hỗn hợp xỉ than (tỉ lệ nghiên cứu 40, 50, 60, 70%) tro bay chưa qua xử lý và vôi (tỉ lệ nghiên cứu 2,4,6,8%) nhằm tận dụng nguồn tro bay, xỉ than phế thải từ Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải làm vật liệu sử dụng cho nền đường, lớp móng kết cấu áo đường với mục đích tận dụng được nguồn phế thải này giải quyết một phần ô nhiễm môi trường do quá trình vận hành Nhà máy Nhiệt điện Duy Hải thải ra.
Mục đích của bài báo là sử dụng chương trình phần tử hữu hạn ABAQUS để mô hình hóa và tính toán trạng thái ứng suất biến dạng của kết cấu áo đường mềm khi coi vật liệu là đàn hồi tuyến tính dưới tác dụng của tải trọng tĩnh. Các kết quả này được so sánh, đối chiếu với kết quả đã được tính toán bởi chương trình tính toán hệ kết cấu nhiều lớp trên nền bán không gian vô hạn Alize của Pháp.
Trình bày những định hướng quản lý, quy hoạch cải tạo và phát triển cảnh quan trong các khu, cụm công nghiệp hiện hữu của thành phố dựa trên những khu vực sản xuất công nghiệp hiện có và tìm những giải pháp thích hợp cho sự phát triển bền vững trong quá trình đô thị hóa của thành phố. Trên cơ sở gắn việc quy hoạch các khu, cụm công nghiệp với việc phát triển các khu dân cư, tác giả đề xuất các giải pháp cải tạo các không gian nhà máy xí nghiệp cũ nằm trong khu dân cư; tăng cường gắn kết không gian sản xuất đô thị trong quy hoạch thiết kế cảnh quan.
Thảo luận một số yếu tố liên quan đến việc xây dựng chương trình đào tạo theo hướng ứng dụng của Khoa Kiến trúc – Trường Đại học Xây dựng Miền Trung – MUCE và kinh nghiệm trong việc đào tạo tiên tiến ngành Kiến trúc tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội – HAU.