"Chu trình kế toán" là một cách tiếp cận có giá trị thực tiễn đối với công tác kế toán hiện nay. Dựa trên những thông lệ quốc tế và những nghiên cứu đã công bố, bài viết này đi sâu phân tích một bước trong chu trình kế toán, đó là bước thực hiện các "Bút toán điều chỉnh". Trên nền tảng lý thuyết về kế toán điều chỉnh, bài viết sẽ phân loại, sắp xếp các nghiệp vụ kế toán trong thực tế hiện nay, phù hợp với đặc điểm và bản chất của các bút toán điều chỉnh trong chu trình kế toán. Qua bài viết này, những người đang làm kế toán cũng như đang học kế toán, sẽ vận dụng được khái niệm chu trình kế toán và bút toán điều chỉnh trong công việc của mình.
Đánh giá mức độ tác động hệ thống kiểm soát nội bộ theo hướng quản trị rủi ro đến tính hữu hiệu quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp du lịch Khánh Hòa. Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, khảo sát 182 đối tượng là nhà lãnh đạo doanh nghiệp hoặc bộ phận kế toán của 76 doanh nghiệp du lịch Khánh Hòa. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 4 trong 8 yếu tố cấu thành nên hệ thống kiểm soát nội bộ theo hướng quản trị rủi ro có tác động đến tính hữu hiệu quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp du lịch Khánh Hòa với mức độ tác động theo thứ tự giảm dần như sau: Môi trường nội bộ, thông tin và truyền thông, hoạt động kiểm soát và phản ứng với rủi ro. Hệ thống kiểm soát nội bộ theo COSO 2004, đã giải thích được 44,4 phần trăm sự biến thiên của tính hữu hiệu quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp du lịch Khánh Hòa.
So với hệ thống chuẩn mực quốc tế về Kế toán (íA/FRS) Việt Nam đang thiếu hụt các Chuẩn mực Kế toán (VAS) quan trọng về Công cụ tài chính (IAS 32, 39). Vì vậy, việc đưa ra những quy định về hạch toán kế toán các công cụ tài chính phần nào bị hạn chế. Mặc dù, ngân hàng Nhà nước đã có những tiếp cận kịp thời với thông lệ quốc tế. Các VAS được đánh giá là phù hợp với IAS/FRS và các Ngân hàng Việt Nam đều phải áp dụng VAS. Tuy nhiên, việc áp dụng IAS/FRS về các công cụ tài chính tại các Ngân hàng Việt Nam, có sự khác biệt không nhỏ so với chế độ kế toán hiện hành (thực hiện theo VAS) của Ngân hàng Việt Nam. Bài viết, chỉ ra một số sự khác biệt giữa VAS và IAS/FRS trong một số phần hành kế toán.
Sự ra đời của Chuẩn mực Báo cáo tài chính số 16 (FRS 16) thay thế chuẩn mực kế toán quốc tế số 17 (IAS 17) năm 2016 là một nỗ lực lớn của ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế nhằm tăng cường tính minh bạch cho báo cáo tài chính của các doanh nghiệp. so với quy định kế toán cũ, IFRS 16 quy định áp dụng một phương pháp kế toán tài sản đi thuê thống nhất cho mọi hoạt động thuê, qua đó hạn chế việc tài sản và nợ phải trả không được ghi nhận trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Quá trình hội nhập với kế toán quốc tế theo xu hướng công nhận và áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế ở Việt Nam đòi hỏi các doanh nghiệp cũng như các nhà đầu tư phải cập nhật với các thay đổi trong hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế đến nội dung thông tin tài chính. Bài viết phân tích những thay đổi chính của IFRS 16 so với quy định kế toán troàn IAS 17 và ảnh hưởng của những thay đổi đó tới việc sử dụng báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Tổ chức công tác kế toán (môn tổ chức) là một môn học mang tính đặc thù riêng, nó không chỉ là truyền đạt kiến thức chuyên môn kế toán, mà cơ bản là trang bị cho học viên tư duy và kỹ năng tổ chức của người lãnh đạo, người ra quyết định, người điều hành công việc... Chính vì vậy, việc trao đổi về nội dung đào tạo, phương pháp giảng dạy môn học này, luôn có ý nghĩa thực tiễn và mang tính thời sự.
Thông tin kế toán đóng vai trò quan trọng, trong công tác quản trị doanh nghiệp. Sự cạnh tranh diễn ra ngày một gay gắt, đòi hỏi nhà quản trị cần nhiều thông tin đặc biệt là thông tin kế toán quản trị phục vụ cho việc ra quyết định, trong đó bao gồm thông tin phục vụ cho việc đánh giá quá trình hoạt động và tình hình thực hiện nhiệm vụ ở từng bộ phận trong doanh nghiệp. Kế toán trách nhiệm là một bộ phận của kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin đó. Thông quan nghiên cứu áp dụng kế toán trách nhiệm trong các doanh nghiệp ngành xây dựng có thể nhận thấy, về cơ bản các doanh nghiệp đã có sự vận dụng kế toán trách nhiệm, do cơ cấu tổ chức của các doanh nghiệp đã có sự phân cấp quản lý rõ ràng. Tuy nhiên, mức độ áp dụng kế toán trách nhiệm tại các doanh nghiệp còn chưa đầy đủ và hiệu quả. Do vậy, các doanh nghiệp cần nghiên cứu áp dụng kế toán trách nhiệm, nhằm cung cấp thông tin cho việc đánh giá hoạt động của từng bộ phận, phục vụ việc ra quyết định.
Hệ thống kế tán quản trị có vai trò rất quan trọng, trong việc cung cấp thông tin cho nhà quản trị ra quyết định kinh doanh trong đơn vị. Đặc biệt, nước ta trong quá trình hội nhập thì doanh nghiệp có nhiều thuận lợi hơn, nhưng đồng thời cũng này sinh nhiều cạnh tranh. Đòi hỏi, các nhà quản trị phải có những chiến lược và tư duy nhạy bén, để ra những quyết định nhanh và chính nhằm không bỏ lỡ cơ hội cho doanh nghiệp, trong đó ngành dệt may cũng không là ngoại lệ. Để đáp ứng mục tiêu này, đòi hỏi những thông tin cung cấp cho nhà quản trị phải nhanh, kịp thời, chính xác và hiệu quả ngày càng được chú trọng. Muốn làm được những điều đó, đòi hỏi các công ty sản xuất nói chung, các công ty sản xuất ngành dệt may nối riêng, phải thiết kế hệ thống kế toán quản trị tốt và phù hợp với cơ cấu tổ chức của đơn vị để cung cấp thông tin kịp thời hỗ trợ việc ra quyết định của nhà quản lý. Trong bài viết này, tác giả sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, nhằm nghiên cứu sự tác động của các yếu tố đến việc thiết kế hệ thống kế toán quản trị tại các doanh nghiệp sản xuất ngành dệt may trên TP Hồ Chí Minh nhằm đề xuất những định hướng để xây dựng hệ thống kế toán quản trị cho phù hợp với đơn vị.
Kết thúc mỗi cuộc kiểm toán, kiểm toán viên phải đưa các ý kiến đánh giá và xác nhận về các thông tin được kiểm toán. Thực tế cho thấy, có nhiều cuộc kiểm toán do giới hạn về số lượng cũng như độ tin cậy của các bằng chứng kiểm toán thu thập dẫn đến kiểm toán viên từ chối đưa ra ý kiến, đưa ra ý kiến loại trừ hoặc có ý kiến đưa ra không chính xác đối với các thông tin được kiểm toán, điều đó gây phiền toái đến các đối tượng quan tâm, sử dụng các thông tin. Vì vậy, trong hoạt động kiểm toán, kiểm toán viên cần áp dụng có hiệu quả các kỹ thuật thu thập bằng chứng, để đưa ra những ý kiến có độ tin cậy cao nhất về các thông tin Tài chính - Kế toán.
Đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nếu chỉ dựa trên chỉ số tài chính thì nó sẽ không phản ánh được một cách toàn diện và đầy đủ. vì vậy, nếu các nàh quản trị muốn có được bức tranh chân thực về chiến lược phát triển bền vững, cần phải tìm ra một công cụ đánh giá hiệu quả hoạt động dựa trên cả các chỉ số tài chính và phi tài chính. Để đạt được mục tiêu đề ra, bài viết nghiên cứu về việc đánh giá hiệu quả hoạt động tại Công ty cổ phần May Nam Hà. Từ đó, tác giả đề xuất một mô hình đánh giá hiệu quả phù hợp cho Công ty cổ phần May Nam Hà.
Thông tin kế toán đóng một vai trò hết sức quan trọng, đối với việc ra quyết định kinh tế của những người sử dụng Báo cáo tài chính, đặc biệt là những nhà đầu tư. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy, những người sử dụng và cả người lập báo cáo tài chính chưa thực sự quan tâm đến chất lượng thông tin cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin, trình bày trên các báo cáo tài chính. Mục tiêu của nghiên cứu này là, nhằm xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng thông tin kế toán trình bày trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là kiểm định thang đo bằng hệ số Cronbach - Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan, xây dựng mô hình hồi quy và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 5 nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán trình bày trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết gồm: Nhà quản trị doanh nghiệp; Lợi ích và chi phí khi lập báo cáo tài chính; Thuế; Lập và trình bày báo cáo tài chính; Rủi ro kiểm toán báo cáo tài chính.