CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
2 Xây dựng quy trình định lượng đồng thời tenofovir disoproxil fumarat, lamivudin và efavirenz trong viên nén bằng kỹ thuật HPLC / Lê Đình Chi, Tống Thị Thanh Vương, Trịnh Lê Anh // Dược học .- 2019 .- Số 3 (Số 515 năm 59) .- Tr. 24-26 .- 615
Sửu dụng kỹ thuật HPLC-UV với điều kiện đơn giản, phương pháp phân tích được xây dựng cho phép phân tích đồng thời tenofovir disoproxil fumarat, lamivudin và efavirenz trong chế phẩm viên nén kết hợp ba hoạt chất này.
4 Nghiên cứu thành phần hóa học hướng tác dụng chống oxy hóa của lá tràm gió (Folium Melaleucae) / Trần Thạch Thảo, Võ Văn Lẹo // Dược học .- 2019 .- Số 3 (Số 515 năm 59) .- Tr. 36-39 .- 615
Nghiên cứu thành phần hóa học định hướng tác dụng chống oxy hóa của lá tràm gió (Folium Melaleucae) nhằm bổ sung thành phần hóa học của cây này và làm tiền đề cho các nghiên cứu về sau.
7 Tổng hợp một số hợp chất thioure mang bộ khung piperazin và piperidin hướng ức chế glutaminyl cyclase trong phòng và điều trị Alzheimer / Trần Phương Thảo, Hoàng Văn Hải, Trần Thị Thu Hiền // Dược học .- 2019 .- Số 3 (Số 515 năm 59) .- Tr. 81-85 .- 615
Tối ưu hóa, tổng hợp và thử hoạt tính ức chế enzym QC các hợp chất thioure mang bộ khung piperazin và piperidin mới thay thế cầu nối ethoxy giữa vòng phenyl và vòng piperazin bằng một vòng cố định phenyl.
8 Phân tích thực trạng kê đơn ceftriaxon trong điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hưng Yên năm 2016 / Nguyễn Thị Thanh Hương, Đặng Văn Hoằng // Dược học .- 2019 .- Số 3 (Số 515 năm 59) .- Tr. 86-88 .- 615
Phân tích tính hợp lý và một số yếu tố liên quan đến kê đơn ceftriaxon trong điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Hưng Yên năm 2017 làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp trong giám sát kê đơn sử dụng ceftriaxon tại Bệnh viện.
9 Khảo sát mối liên quan của SLC17A1 rs1165196 với bệnh gút ở người Việt Nam / Nguyễn Thùy Dương, Nguyễn Doãn Tình, Nguyễn Trần Minh Thắng // Công nghệ Sinh học .- 2018 .- Số 16(3) .- Tr. 407-414 .- 570
Xác định sự phân bố của đa hình SLC17A1 rs1165196 và mối liên hệ của nó đối với bệnh gút ở quần thể người Việt đồng thời tìm hiểu khả năng sử dụng nó như một marker phân tử cho phép chẩn đoán sớm nguy cơ mắc bệnh gút ở người Việt Nam.