Đánh giá tác dụng của ngũ tử diễn tông hoàn trong điều trị rối loạn kinh nguyệt do hội chứng buồng trứng đa nang trên 39 bệnh nhân. Trong số 39 bệnh nhân được điều trị bằng ngũ tử diễn thông hoàn có 38,46 phần trăm bệnh nhân có chu kỳ kinh nguyệt bình thường, chu kỳ kinh nguyệt của những bệnh nhân này ngắn hơn trước điều trị. Tỷ lệ bệnh nhân đạt kết quả tốt là 69,23 phần trăm, tỷ lệ bệnh nhân có kết quả tốt của thể thận hư có xu hướng cao hươn thể đàm thấp. Kết quả này chứng tỏ ngũ tử diễn tông hoàn có tác dụng điều hòa rối loạn kinh nguyệt do hội chứng buồng trứng đa năng.
Tỷ lệ nhiễm khuẩn mắc phải của người bệnh đặt catheter tĩnh mạch trung tâm chiếm tới 2,2 phần trăm. Có sự liên quan giữa bẹnh nhân đặt catheter tĩnh mạch trung tâm ở các khoa khác chuyển đến và bị nhiễm khuẩn mắc phải cao hơn bệnh nhân được đặt catheter tĩnh mạch trung tâm tại khoa hồi sức cấp cứu, giữa số lần đâm kim 1 lần có nguy cơ nhiễm khuẩn mắc phải cao hơn đâm kim 1 lần khi đặt catheter tĩnh mạch trung tâm. Số lần thay băng chân catheter tĩnh mạch trung tâm 2 ngày/1 lần có nguy cơ nhiễm khuẩn mắc phải cao hơn so với thay băng 1 lần/tuần.
Mẫu nghiên cứu gồm 100 mẫu hàm thạch cao từ 20 đến 23 tuổi, trong đó có 48 nam và 52 nữ. Các kích thước gần xa ở nam giới đều cao hơn nữ giới. Có mối tương quan thuận giữa mức độ biển hện răng cửa hình xẻng của răng cửa giữa, răng cửa bên hàm trên và kích thước gần xa của răng cối lớn thứ nhất hàm trên.
Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng trên 100 bệnh nhân trên 16 tuổi, khỏe mạnh, có chỉ định phẫu thuật nội soi phụ khoa, chia làm 2 nhóm bằng nhau. Nhóm O sử dụng 4mg Ondansetron và nhóm D sử dụng 8mg Dexamethason tiêm tĩnh mạch trước khi khởi mê. Kết quả cho thấy nhóm O có tỷ lệ nôn và buồn nôn trong 24 giờ đầu sau mổ là 34 phần trăm và số lần nôn, buồn nôn trung bình là 0,64 lần. Nhóm Dexamethason có tỷ lệ nôn và buồn nôn trong 24 giờ đầu sau mổ là 30 phần trăm và số lần nôn, buồn nôn là 0,66 lần.
Nghiên cứu được thực hiện trên 120 trẻ suy dinh dưỡng độ I và độ II. Trẻ được uống thuốc và theo dõi trong 3 tháng. Kết quả cho thấy có 86,7 phần trăm trẻ uống thuốc bổ tỳ cải dạng được chuyển chế độ dinh dưỡng cao hơn nhóm uống thuốc bổ tỳ cũ 58,3 phần trăm.
Từ 2/2014 đến 7/2016 có 46 bệnh nhân được diều trị tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt bằng phương pháp nút động mạch. Thủ thuật thành công trên 44 bệnh nhân. Lâm sàng cải thiện ở cả 100 phần trăm bệnh nhân, các chỉ số IPS, QoL, Qmax, PVR, IIEF-5 cải thiện sau 18 tháng.
Đánh giá giá trị tiên lượng ngắn hạn của thang điểm Grace kết hợp với NT-proBNP huyết thanh trên 127 bệnh nhân hội chứng vành cấp. Nồng độ NT-proBNP huyết thanh huyết thanh giữa cac nhóm theo phân suất tống máu thất trái, bình thường là 809,7 pg/ml. Mối tương quan nghịch giữa nồng độ NT-proBNP huyết thanh với phân suất tống máu thất trái sau hội chứng vành cấp. Giá trị điểm cắt NT-proBNP tiên đoán tử vong 30 ngày ở bệnh nhân hội chứng vành cấp 2037 pg/ml có độ nhạy 100 phần trăm, độ đặc hiệu 5,7 phần trăm và diện tích dưới đường cong là 0,917.
Ở bệnh nhân phổi tắc nghẹn mạn tính có sự giảm gái trị các thông số FEV1, MVV trong đó MVV giảm rõ nhất, các thông số thăm dò chức năng giãn phổi tăng và sức cản đường thở tăng. Sự rối loạn này có tương quan với mức độ nặng của bệnh và kiểu hình bệnh phổi tắc nghẹn mạn tính. Thông số FEV1, MVVm RV/TLC có mối tương quan nghịch khá chặt chẽ với mức độ nặng của bệnh.
Chỉ số CAT trung bình ở bệnh nhân phổi tắc nghẹn mạn tính là 19,97 cộng trừ 4,9, trong đó có 96,9 phần trăm bệnh có mức ảnh hưởng trung bình và nhiều đến chất lượng cuộc sống. Chỉ số BODE trung bình là 5,21 cộng trừ 1,96 và 42,42 phần trăm bệnh nhân là BODE III. Chỉ số CAT và BODE tăng theo giai đoạn bệnh. Có mối tương quan thuận chặt chẽgiữa chỉ số CAT và chỉ số BODE.
Quá trình tổng hợp dẫn chất halogenobenzyliden-3-(4-Clorosalicylamido) Rhodanin thu được 4 sản phẩm, các sản phẩm đều có độ tinh khiết cao, có cấu trúc giống như dự đoán. Các sản phẩm có tác động kháng tốt các chủng vi khuẩn G(+) gây bệnh như S.feacalis, MSSA và MRSA.