CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Khảo sát kiến thức của sinh viên y khoa về chết não / Đồng Văn Hệ, Nguyễn Thị Lý, Trịnh Hồng Sơn // Y học thành phố Hồ Chí Minh (Điện tử) .- 2016 .- Số 4 .- Tr. 119-124 .- 610
Trong số 456 sinh viên đồng ý phỏng vấn, chỉ 300 người trẻ lời đầy đủ tất cả các câu hỏi trong mẫu. Tuổi trung bình là 22, sinh viên nam chiếm 49 phần trăm. Trong số 300 sinh viên trả lời đủ, có 16,3 phần trăm được xếp loại có kiến thức về chết não đầy đủ, 62,67 phần trăm cho rằng chết não giống với sống thực vật, 44 phần trăm cho rằng bệnh nhân chết não có thể sống lại và 36 phần trăm cho rằng chết não đồng nghĩa với chết và khác với hôn mê và sống thực vật. Có 28,35 phần trăm biết các tiêu chuẩn chẩn đoán chết não.
2 Tác dụng cải thiện vận động cột sống thắt lưng của liệu pháp kinh cân trong điều trị đau thần kinh hông to / Nguyễn Thị Thúy, Dương Trọng Nghĩa, Nguyễn Nhược Kim // Y dược học cổ truyền Việt Nam ( Điện tử) .- 2016 .- Số 50 .- Tr. 73-81 .- 610
Đánh giá hiệu quả của liệu pháp kinh cân trong điều trị trên 60 bệnh nhân được chẩn đoán đau thần kinh hông to, chia làm 2 nhóm so sánh trước sau và so sánh 2 nhóm với nhau. Sau điều trị, độ giãn cột sống thắt lưng, gấp cột sống thắt lưng, duỗi cột sống thắt lương ở nhóm 1 tốt hơn nhóm 2. Không phát hiện tác dụng không mong muốn trong quá trình điều trị.
3 Một số giải pháp bảo tồn và phát triển tài sản trí tuệ Tây Nguyên trong bối cảnh hội nhập quốc tế / Đặng Minh Đức, Nguyễn Phương Tâm Anh // Nghiên cứu Châu Âu .- 2018 .- Số 4 .- Tr. 73-82 .- 327.4
Tây Nguyên là khu vực có rất nhiều lợi thế trong phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Bài viết này đánh giá tiềm năng của vùng, từ đó hướng tới đẩy mạnh bảo tồn, khai thác hiêụ quả nhằm phát triển và bảo tồn tài sản trí tuệ vùng Tây Nguyên trong bối cảnh hội nhập quốc tế mới.
4 Thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa khi tham gia Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương / Vũ Huy Giang // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2018 .- Số 515 tháng 4 .- Tr. 21-22 .- 658
Toàn cầu hóa là kết quả tất yếu của quá trình tự do hóa kinh tế và hội nhập quốc tế. Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP sẽ mở ra một sân chơi mới với quy mô thị trường chiếm khoảng 13,5 phần trăm GDP toàn cầu và bao trùm thị trường gần 500 triệu dân. Ngoài ra, với tiêu chuẩn cao và đặt ra những quy định cho các vấn đề phi truyền thống như lao động, môi trường, doanh nghiệp nhà nước, hiệp định này sẽ giảm thuế quan trong khu vực vốn chiếm tổng số là 10 nghìn tỉ USD trong nền kinh tế toàn cầu. Ngay cả khi không có Mỹ, thỏa thuận sẽ mở rộng thị trường rộng lớn, đưa CPTPP trở thành 1 trong 3 hiệp định thương mại lớn nhất thế giới. Bài viết đã làm rõ một số khía cạnh về thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay trong tiến trình hội nhập CPTPP.
5 Các mô hình hoạch định chính sách phổ biến của nước Anh với EU giai đoạn 1992-2016 / Chu Thanh Vân // Nghiên cứu Châu Âu .- 2018 .- Số 211 .- Tr. 19-27 .- 327
Nước Anh là một quốc gia có ảnh hưởng lớn trên thế giới. Anh luôn được đánh giá cao nhờ phản ứng linh hoạt trong mọi tình huống trong quan hệ quốc tế nhờ tài ngoại giao và sự tính toán chiến lược khôn ngoan. Nhiều mô hình hoạch định và đánh giá, phân tích chính sách đối ngoại chuyên biệt đã được phát triển. Bài viết tìm hiểu ba mô hình phân tích chính sách đối ngoại có tính phổ quát hơn cả của Anh đối với EU trong giai đoạn 1992-2016, bao gồm: cấp tiến, tổ chức/ thể chế/ hành chính và đa nguyên.
6 Bảo vệ di sản vùng chiến sự Trung Đông - Cuộc đấu tranh gìn giữ kí ức nhân loại / Trần Thị Khánh Hà // Nghiên cứu Châu Âu .- 2018 .- Số 4 .- Tr. 60-72 .- 327
Khu vực Trung Đông trù phú nơi chứa đựng nhiều tầng trầm tích văn hoá. Bài viết xem xét thực trạng di sản văn hoá ở một số quốc gia Trung Đông bị phá huỷ do chiến tranh và một số hoạt động nỗ lực bảo vệ di sản trong vùng chiến sự của cộng đồng quốc tế.
7 Sự khác biệt giữa công ty hợp vốn đơn giản tại các quốc gia Châu Âu với Việt Nam / Nguyễn Vinh Hưng // Nghiên cứu Châu Âu .- 2018 .- Số 211 .- Tr. 83-92 .- 658
Công ty hợp vốn đơn giản là loại hình công ty khá phổ biến trên thế giới. Nghiên cứu cho thấy, ban đầu các loại hình công ty này được hình thành tại Châu Âu và sau đó phát triển đến nhiều quốc gia khác trong đó Việt Nam. Tuy nhiên, các quy định hiện nay về công ty vốn đơn giản tại Việt Nam lại đang có nhiều điểm khác biệt so với công ty hợp vốn đơn giản tại Châu Âu.
8 Thực trạng pháp luật về mô hình hệ thống tổ chức tín dụng là hợp tác xã / Đỗ Mạnh Phương // Nhà nước và pháp luật .- 2019 .- Số 4(372) .- Tr. 66 – 76 .- 340
Bài viết phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về mô hình hệ thống các tổ chức tín dụng là hợp tác xã; từ đó chỉ ra những bất cập, hạn chế và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật điều chỉnh mô hình tổ chức hệ thống các tổ chức tín dụng là hợp tác xã.
9 Bàn về cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước trong khuôn khổ hiệp định EVFTA và CPTPP / Trần Việt Dũng // Nhà nước và pháp luật .- 2019 .- Số 4(372) .- Tr. 77 – 84 .- 340
Bài viết phân tích tổng quan những vấn đề còn gây tranh cãi của cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và Nhà nước (ISDS) truyền thống; Giới thiệu và đánh giá về ISDS trong khuôn khổ hai hiệp định thương mại quan trọng là Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Bài viết cũng sẽ phân tích nột số giải pháp pháp đã được Việt Nam áp dụng để hạn chế rũi ro từ ISDS và những chiến lược cần phải thực hiện để bảo vệ quyền lợi cho Nhà nước một cách hệ thống và hiệu quả trước các vụ tranh chấp với nhà đầu tư nước ngoài.
10 Nâng cao nhận thức về xây dựng đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp trong các cơ quan, tổ chức nội chính góp phần phòng, chống tham nhũng / Trương Hồng Hải // Nghề luật .- 2019 .- Số 1 .- Tr. 11 – 16 .- 340
Nâng cao nhận thức về xây dựng đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp là yêu cầu khách quan và cấp thiết góp phần tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, người hoạt động nghề nghiệp trong các cơ quan, tổ chức nội chính đáp ứng yêu cầu công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất các giải pháp cho vấn đề này.