Giới thiệu một cách tiếp cận mô phỏng số bằng phương pháp phần tử hữu hạn phi tuyến sử dụng phần mềm ATENA 2D. Các kết quả được kiểm chứng trên một số dầm sử dụng cốt dọc GFRP, không có cốt đai của một số nhà nghiên cứu trên thế giới. Các kết quả khảo sát tham số như ảnh hưởng của hàm lượng cốt dọc, ảnh hưởng của tỷ lệ nhịp chịu cắt trên chiều cao làm việc (a / d) sẽ là những dữ liệu tốt giúp thiết lập được các công thức thiết kế chịu cắt có độ chính xác cao hơn trong tương lai.
Trong giai đoạn tới Việt Nam tiếp tục triển khai đầu tư các công cụ phát triển đô thị theo hình thức Đối tác Công tư (PPP). Để các dự án PPP trong khu vực phát triển đô thị có hiệu quả cần phụ thuộc khá nhiều vào các hoạt động quản lý. Hiệu quả quản lý cần phải được nghiên cứu căn cứ vào các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý. Các tiêu chí chủ yếu bao gồm tiêu chí hiệu lực, tiêu chí hiệu quả, tiêu chí phù hợp và tiêu chí bền vững.
Trình bày một khảo sát về mức độ chính xác của các công thức dự đoán bề rộng vết nứt uốn hiện có cho sàn U-Boot chịu tải trọng tĩnh dựa trên kết quả thực nghiệm sẵn có. Kết quả khảo sát cho thấy các công thức hiện có dự đoán bề rộng vết nứt uốn cho trường hợp của sàn U-Boot với mức độ chính xác khá thấp. Bài báo đề xuất một côn thức bán thực nghiệm dựa trên hiệu chỉnh công thức của EC2 (2004) nhằm phục vụ cho công tác dự đoán bề rộng vết nứt của sàn U-Boot được chính xác và hợp lý hơn. So với các công thức hiện có, công thức hiệu chỉnh cho kết quả gần với thực nghiệm và có độ phân tán thấp.
Nghiên cứu sử dụng phần mềm miti-lis để mô phỏng lan tỏa ô nhiễm bụi và các khí ô nhiễm từ các nguồn thải của cụm sản xuất thép tại khu công nghiệp Hòa Khánh, thành phố Đà Nẵng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù các nhà máy đã thực hiện xử lý ô nhiễm khí thải theo cam kết đánh giá tác động môi trường (ĐTM) nhưng vẫn gây ô nhiễm môi trường xung quanh vượt 3 lần so với QCVN 05:2013. Nếu các hệ thống xử lý khí thải ngừng hoạt động sẽ gây ô nhiễm vượt khoảng 17 lần. Nguyên nhân được nghiên cứu chỉ ra là do lựa chọn chiều cao, đường kính ống khói và hiệu suất của thiết bị xử lý chưa đạt yêu cầu. Bài báo cũng đề xuất một số biện pháp khả thi để khắc phục các bất cập đang xảy ra.
Bài báo tập trung vào việc đánh giá bê tông nhự chặt có cỡ hạt lớn nhất danh định 12.5mm thông qua các thí nghiệm trong phòng như độ ổn định Marshall, cường độ ép chẻ, độ mài mòn Cantabro và mô đun đàn hồi.
Trong bê tông nói chung và bê tông geopolymer nói riêng, cốt liệu chiếm tỷ lệ lớn nhất trong bê tông và đóng vai trò tạo ra bộ khung chịu lực. Việc lựa chọn thành phần hạt cốt liệu là một trong những công việc quan trọng trong thiết kế cấp phối bê tông. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả lần lượt thực hiện chế tạo 04 cấp phối có kích thước cốt liệu thay đổi để đánh giá ảnh hưởng của yếu tố này đến một số đặc trưng cơ học như cường độ chịu nén, cường độ chịu kéo và mô đun đàn hồi của bê tông geopolymer.
Trình bày kết quả thực nghiệm nhằm đánh giá ảnh hưởng của hàm lượng xỉ đáy lò đến một số tính chất cơ-lý của vữa xây dựng sử dụng hàm lượng tro bay lớn với nguồn tro bay và xỉ đáy lò từ các nhà máy nhiệt điện đốt than ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Định lượng năng suất đổ bê tông dầm sàn theo hai phương pháp: bơm cần và bơm ngang áp lực. Thông qua số liệu thực tế ghi nhận được ở hai dự án nhà nhiều tầng ở An Giang, nghiên cứu đã chỉ ra rằng thời gian trung bình để một xe bê tông (loại 7m3) từ lúc đến công trường đến lúc hoàn thành là khoảng 15 phút (kể cả thời gian chờ được bơm, đâm dùi, làm mặt...).