Nâng cao chất lượng, xây dựng tạp chí khoa học theo tiêu chuẩn quốc tế là xu thế tất yếu trong hoạt động nghiên cứu, xuất bản tạp chí khoa học của các trường đại học, viện nghiên cứu ở các nước trên thế giới, trong đó Việt Nam cũng không thể đứng ngoài cuộc. Trên cơ sở phân tích làm rõ các khái niệm: tạp chí khoa học quốc tế, tiêu chuẩn tạp chí khoa học quốc tế, xây dựng tạp chí khoa học theo tiêu chuẩn quốc tế; thực trạng xây dựng, tính đáp ứng của Tạp chí luật học theo tiêu chuẩn tạp chí khoa học quốc tế.
Quyền tự do hợp đồng là một trong các quyền kinh tế của con người. Dưới góc nhìn so sánh, bài viết nghiên cứu quyền thỏa thuận thay đổi nội dung hợp đồng trong tình huống " hoàn cảnh thay đổi cơ bản" của pháp luật Hoa Kỳ, Trung Quốc, Pháp và pháp luật quốc tế với pháp luật hợp đồng của Việt Nam để thấy rõ sự tương đồng và khác biệt.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá và chỉ ra một số bất cập về kĩ thuật lập pháp, tính minh bạch của pháp luật hiện hành về nhận diện giao dịch giữa các công ty đại chúng với người có liên quan. Bài viết đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật hiện hành; hướng dẫn chi tiết về các tiêu chí, điều kiện xác định người có liên quan của công ty đại chúng và giao dịch giữa công ty đại chúng với người có liên quan.
Bài viết đánh giá kết quả điều trị ung thư dạ dày giai đoạn muộn trên 44 bệnh nhân bằng phác đồ Folfiri. Kết quả cho thấy đáp ứng điều trị toàn bộ là 36,4%, trong đó 4,6% có đáp ứng hoàn toàn. Bệnh ổn định chiếm 15,9% và 47,7% bệnh nhân tiến triển. Thời gian sống thêm không tiến triển trung vị đạt 5,1 tháng. Mô bệnh học và giới có liên quan đến thời gian sống thêm bệnh không tiến triển.
Bài viết đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và giá trị của thang điểm SCAP trong phân tầng nguy cơ bệnh nhân viêm phổi cộng đồng tại bệnh viện Bạch Mai trên 146 bệnh nhân tại bệnh viện Bạch Mai từ 01/2014 đến 12/2016. Kết quả cho thấy triệu chứng thường gặp của bệnh nhân viêm phổi mắc phải cộng đồng là khó thở, ho, sốt. Điểm SCAP càng cao tỷ lệ bệnh nhân nhập ICU, thở máy, sốc nhiểm khuẩn, tử vong càng cao.
Bài viết đánh giá hiệu quả của 2 chế độ liều sử dụng colistin truyền tĩnh mạch trong điều trị viêm phổi liên quan thở máy trên 87 trường hợp được điều trị colistin tại bệnh viện Bạch Mai từ 9/2016 đến 8/2017. Kết quả cho thấy chế độ liều colistin điều trị đạt hiệu quả lâm sàng và vi sinh tốt hơn so với chế độ liều colistin hiện hành. Tỷ lệ xuất hiệu tổn thương thận gặp ở cả 2 chế độ liều là tương đương nhau.
Bài viết nghiên cứu sự thay đổi các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng của tiền sản giật nặng sau mổ lấy thai. Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có so sánh 180 bệnh nhân, được chia làm 3 nhóm. Nhóm 1 được gây mê nội khí quản, nhóm 2 gây tê tủy sống và nhóm 3 gây tê tủy sống ngoài màng cứng phối hợp. Kết quả cho thấy ở cả 3 nhóm, các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của tiền sản giật giảm nhanh sau mổ lấy thai, có giảm albumin máu, số lượng tiểu cầu và tỷ lệ prothrombin so với trước mổ.
Bài viết tập trung nghiên cứu tỷ lệ sống thêm trong lơ xê mi kinh dòng bạch cầu hạt điều trị nhắm đích trên 118 bệnh nhân tại viện huyết học và truyền máu Trung ương từ 6/2014 đến 12/2015. Kết quả cho thấy tỷ lệ sống thêm không tiến triển bệnh sau 12, 24, 36 và 48 tháng tương ứng là 98,3%; 97,5%, 93,6% và 93,4%. Tỷ lệ sống thêm toàn bộ sau 12, 24, 36 và 48 tháng tương ứng là 100%; 99,1%, 98,1% va 96,9%.
Bài viết tìm hiểu những yếu tố liên quan đến kết quả điều trị sỏi niệu quản 1/3 dưới qua nội soi tán sỏi ngược dòng bằng Holmium laser trên 69 bệnh nhân tại bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp từ 01/2014 đến 9/2016. Kết quả cho thấy tỷ lệ tán sỏi thành công chiếm 98,6% và thất bại là 1,4%. Thời gian tán sỏi trung bình là 38,25 phút. Sỏi càng nhiều viên kết quả tán thành công càng giảm. Niệu quản càng nhiều tổn thương phối hợp thì kết quả tán sỏi càng kém.
Bài viết đánh giá hiệu quả bổ sung đa vi chất với sắt - acid forlic trên 202 phụ nữ mang thai đối với tình trạng nuôi con bằng sữa mẹ. Kết quả cho thấy việc bổ sung đa vi chất cho phụ nữ mang thai đã cải thiện được tình trạng nuôi con bằng sữa mẹ tốt hơn bổ sung sắt - acid forlic. Thời gian bú mẹ trung bình lần đầu ở nhóm đa vi chất sớm hơn nhóm sắt - acid forlic. Tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn 6 tuần đầu ở nhóm đa vi chất chiếm 34,4% cao hơn ở nhóm sắt - acid forlic (18,2%). Tỷ lệ mẹ có đủ sữa khi trẻ 6 tháng tuổi ở nhóm đa vi chất là 83%, cao hơn nhóm sắt - acid forlic (79%). Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn khi trẻ 6 tháng tuổi ở nhóm đa vi chất là 25,6%, cao hơn nhóm sắt - acid forlic (15,3%).